Báo cáo nghiên cứu khả thi cho du án đầu tư
Báo cáo nghiên cứu khả thi cho du án đầu tư
Báo cáo nghiên cứu khả thi là một trong những hồ sơ quan trọng nhất trong giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, bởi đây là tài liệu tập hợp và phân tích tương đối toàn diện những vấn đề cần thiết trước khi dự án được xem xét thẩm định, phê duyệt và quyết định đầu tư. Nội dung Báo cáo không chỉ trả lời câu hỏi dự án có cần thiết phải đầu tư hay không mà còn phải chứng minh dự án được hình thành trên cơ sở phù hợp, có điều kiện thực hiện, có giải pháp kỹ thuật, tài chính và tổ chức tương ứng, đồng thời có khả năng vận hành sau khi hoàn thành. Vì vậy, Báo cáo nghiên cứu khả thi phải được xây dựng như một chỉnh thể thống nhất, trong đó mục tiêu đầu tư, quy mô, địa điểm, đất đai, quy hoạch, công nghệ, thiết kế, tổng mức đầu tư, nguồn vốn, tiến độ, hiệu quả và phương án khai thác có quan hệ trực tiếp với nhau.
Đối với dự án đầu tư công, nội dung đầu tiên cần được làm rõ là sự cần thiết đầu tư, mục tiêu đầu tư xây dựng và quy mô công suất. Đây là nền tảng để xác định toàn bộ cấu trúc của dự án. Khi chưa xác định rõ nhu cầu cần giải quyết và mục tiêu cần đạt được thì chưa thể lựa chọn hợp lý quy mô, địa điểm, giải pháp kỹ thuật hay xác định nguồn lực đầu tư.
Sự cần thiết đầu tư cần phản ánh lý do hình thành dự án và nhu cầu thực tế mà dự án hướng tới giải quyết. Trên cơ sở đó, mục tiêu đầu tư phải được xác định rõ ràng, tạo căn cứ để lựa chọn quy mô và công suất tương ứng. Quy mô không nên được xác định độc lập mà phải đủ để đáp ứng mục tiêu, đồng thời phù hợp với điều kiện và nguồn lực thực hiện.
Nếu dự án đã có chủ trương đầu tư hoặc văn bản phê duyệt thông tin dự án thì Báo cáo nghiên cứu khả thi phải đánh giá sự phù hợp với các nội dung tương ứng tại những văn bản này. Yêu cầu đó bảo đảm sự liên tục giữa giai đoạn hình thành chủ trương và giai đoạn cụ thể hóa dự án.
Có thể hiểu rằng chủ trương đầu tư xác lập những định hướng và nội dung nền tảng, còn Báo cáo nghiên cứu khả thi tiếp tục cụ thể hóa thành phương án có khả năng triển khai. Vì vậy, quá trình cụ thể hóa không được tách rời những nội dung đã được xác định trước đó.
Sau khi làm rõ mục tiêu và quy mô, Báo cáo phải xác định địa điểm xây dựng, diện tích và chức năng sử dụng đất. Đây là nhóm nội dung liên quan trực tiếp đến không gian thực hiện dự án.
Địa điểm xây dựng không chỉ cần được xác định về vị trí mà còn phải được đánh giá trong mối quan hệ với quy hoạch được sử dụng làm căn cứ lập dự án và các quy hoạch có liên quan. Qua đó có thể xem xét phương án đầu tư có phù hợp với định hướng phát triển và tổ chức không gian đã được xác lập hay không.
Diện tích và chức năng sử dụng đất phải tương thích với quy mô, công năng và đặc điểm của dự án. Nếu dự án cần nhiều loại công trình hoặc nhiều khu chức năng khác nhau thì phương án sử dụng đất phải phản ánh được nhu cầu đó.
Đất đai cũng liên quan trực tiếp đến phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, tiến độ và tổng mức đầu tư. Vì vậy, đây không phải một thông tin đứng riêng trong Báo cáo mà là một trong những yếu tố tác động đến tính khả thi chung.
Tiếp theo, Báo cáo phải phân tích các yếu tố bảo đảm thực hiện dự án, bao gồm điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - kỹ thuật, việc sử dụng tài nguyên, sử dụng lao động, lựa chọn công nghệ và thiết bị, giải pháp tổ chức quản lý thực hiện dự án cũng như phương án khai thác, sử dụng.
Nếu sự cần thiết đầu tư trả lời câu hỏi “vì sao phải đầu tư” thì nhóm nội dung này hướng đến câu hỏi “dự án có những điều kiện nào để thực hiện”. Đây là một bước chuyển rất quan trọng từ ý tưởng đầu tư sang khả năng triển khai trên thực tế.
Điều kiện tự nhiên phải được xem xét gắn với vị trí công trình và giải pháp thiết kế. Các đặc điểm của khu vực xây dựng có thể ảnh hưởng đến cách bố trí công trình, giải pháp kỹ thuật và tổ chức thi công.
Điều kiện kinh tế - kỹ thuật phản ánh môi trường và các nguồn lực có liên quan đến việc triển khai dự án. Việc sử dụng tài nguyên và lao động cũng cần được phân tích phù hợp với quy mô và tính chất đầu tư.
Đối với công nghệ và thiết bị, việc lựa chọn phải xuất phát từ yêu cầu công năng, công suất và phương thức vận hành. Công nghệ được lựa chọn có thể ảnh hưởng đến thiết kế, chi phí đầu tư, nhân lực, năng lượng, công tác đào tạo và hoạt động bảo trì sau này.
Giải pháp tổ chức quản lý thực hiện dự án cũng cần được xác định từ giai đoạn nghiên cứu khả thi. Dự án không chỉ cần phương án xây dựng mà còn cần cơ chế quản lý để kiểm soát tiến độ, chi phí, chất lượng và những công việc liên quan trong suốt quá trình triển khai.
Một nội dung quan trọng khác là phương án phân chia dự án thành dự án thành phần, dự án thành phần độc lập hoặc phân kỳ đầu tư nếu có. Việc phân chia phải được nghiên cứu trong mối quan hệ với tổng thể dự án chứ không chỉ nhằm chia nhỏ quy mô quản lý.
Mỗi dự án thành phần có thể có phạm vi và thời gian thực hiện riêng, nhưng cuối cùng vẫn phải hướng tới mục tiêu chung. Đặc biệt, khi các dự án thành phần có quan hệ về công năng hoặc hạ tầng thì khả năng kết nối và vận hành đồng bộ cần được tính đến ngay từ phương án phân chia.
Phân kỳ đầu tư cũng cần bảo đảm các giai đoạn có thể nối tiếp và hỗ trợ nhau. Việc triển khai theo từng kỳ phải phù hợp với khả năng bố trí nguồn lực và thời gian thực hiện chung của dự án.
Báo cáo nghiên cứu khả thi phải đánh giá tác động môi trường và việc bảo vệ môi trường. Nội dung này đặt dự án trong mối quan hệ với môi trường tại khu vực thực hiện và những yêu cầu bảo vệ môi trường tương ứng.
Trường hợp pháp luật về bảo vệ môi trường yêu cầu lập Báo cáo riêng thì phần thuyết minh của Báo cáo nghiên cứu khả thi chỉ nêu kết quả thực hiện. Điều này giúp tránh lặp lại một hồ sơ chuyên ngành nhưng vẫn bảo đảm kết quả môi trường được tích hợp vào quá trình xem xét dự án.
Nếu dự án phát sinh bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thì Báo cáo phải xây dựng phương án tổng thể tương ứng. Đây là một nội dung có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thực hiện, đặc biệt đối với dự án sử dụng diện tích đất lớn hoặc liên quan đến nhiều đối tượng sử dụng đất.
Phương án tổng thể cần được xem xét đồng thời với địa điểm, diện tích sử dụng đất, tiến độ và tổng mức đầu tư. Nếu công tác bồi thường và bàn giao mặt bằng không đáp ứng tiến độ thì hoạt động xây dựng cũng khó triển khai theo kế hoạch.
Sau đó, Báo cáo phải xác định thời gian dự kiến thực hiện dự án và các mốc thời gian chính. Trường hợp chủ trương đầu tư đã quy định các yêu cầu về tiến độ thì các mốc trong Báo cáo phải được xây dựng phù hợp.
Tiến độ không chỉ là một con số về thời gian bắt đầu và kết thúc mà cần phản ánh những mốc chính của quá trình thực hiện. Với dự án được chia thành nhiều phần, tiến độ từng phần phải được tổ chức sao cho không làm ảnh hưởng đến khả năng hoàn thành và vận hành toàn bộ dự án.
Tiến độ còn có quan hệ chặt chẽ với nguồn vốn. Nhu cầu vốn thường phát sinh theo từng giai đoạn thực hiện, do đó kế hoạch tài chính phải đủ khả năng hỗ trợ tiến độ đã đề ra.
Một cấu phần đặc biệt quan trọng của Báo cáo là tổng mức đầu tư xây dựng. Tổng mức đầu tư được xác định theo quy định của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng.
Đây là chỉ tiêu phản ánh nguồn lực tài chính dự kiến cần thiết để thực hiện dự án. Tổng mức đầu tư phải phù hợp với quy mô, thiết kế, công nghệ, thiết bị, phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và các nội dung liên quan.
Vì vậy, tổng mức đầu tư không thể được xây dựng độc lập với phần kỹ thuật. Nếu quy mô hoặc giải pháp thiết kế thay đổi thì ảnh hưởng đến chi phí cũng phải được xem xét. Tương tự, việc thay đổi công nghệ hoặc thiết bị có thể làm thay đổi đáng kể nhu cầu vốn.
Báo cáo còn phải xác định nguồn vốn và khả năng thu hồi vốn nếu có, đồng thời phân tích tài chính và rủi ro. Đây là bước xem xét liệu nguồn lực tài chính có phù hợp với quy mô đầu tư và cách thức tổ chức dự án hay không.
Phân tích tài chính cần được đặt trong mối quan hệ với tổng mức đầu tư và tiến độ. Nguồn vốn phải có khả năng đáp ứng nhu cầu thực hiện dự án theo các giai đoạn tương ứng.
Bên cạnh vốn đầu tư ban đầu, Báo cáo còn phải xem xét chi phí khai thác, sử dụng công trình và khả năng đáp ứng nguồn vốn phục vụ khai thác, bảo trì.
Quy định này mở rộng phạm vi nghiên cứu từ giai đoạn xây dựng sang toàn bộ quá trình sử dụng. Một dự án có đủ vốn xây dựng nhưng thiếu nguồn lực để vận hành hoặc bảo trì thì khả năng duy trì công năng sau đầu tư có thể bị ảnh hưởng.
Phân tích rủi ro cũng cần được thực hiện để nhận diện những yếu tố có khả năng tác động đến dự án. Các rủi ro có thể liên quan đến quá trình triển khai, nguồn lực, tài chính hoặc những điều kiện thực hiện khác.
Báo cáo tiếp tục phải đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và việc bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đây là nhóm nội dung giúp xem xét dự án trong phạm vi rộng hơn so với hiệu quả tài chính trực tiếp.
Đối với dự án đầu tư công, hiệu quả có thể được thể hiện thông qua những giá trị kinh tế - xã hội và mục tiêu phục vụ cộng đồng mà dự án mang lại. Vì vậy, hiệu quả của dự án cần được đánh giá phù hợp với mục tiêu đã xác định từ đầu.
Nếu dự án có yêu cầu về đào tạo, chuyển giao công nghệ, vận hành, khai thác, duy tu và bảo trì thì Báo cáo phải xây dựng phương án tương ứng.
Đào tạo và chuyển giao công nghệ cần được xem xét đặc biệt đối với công trình sử dụng thiết bị hoặc công nghệ đòi hỏi nhân lực chuyên môn. Công trình chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi sau khi hoàn thành có đội ngũ đủ khả năng tiếp nhận và vận hành.
Phương án duy tu, bảo trì phải gắn với khả năng đáp ứng nguồn vốn đã được phân tích. Như vậy, phần tài chính và phần vận hành không phải hai nội dung tách rời mà hỗ trợ trực tiếp cho nhau.
Báo cáo cũng có thể kiến nghị các cơ chế phối hợp, chính sách ưu đãi và hỗ trợ thực hiện dự án. Những kiến nghị này cần xuất phát từ điều kiện cụ thể và những vấn đề cần giải quyết trong quá trình triển khai.
Ngoài các nội dung được liệt kê, Báo cáo còn có thể thể hiện những nội dung cần thiết khác nhằm phản ánh đầy đủ đặc điểm riêng của dự án.
Một trường hợp đáng chú ý là dự án lập thiết kế FEED hoặc thiết kế kỹ thuật ngay tại Báo cáo nghiên cứu khả thi và dự kiến lựa chọn nhà thầu ngay sau khi dự án được phê duyệt. Trong trường hợp này, Báo cáo phải đề xuất kế hoạch tổng thể lựa chọn nhà thầu.
Đồng thời phải đề xuất phương án phân chia các gói thầu thi công xây dựng, gói thầu EPC, EC và EP.
Việc chuẩn bị những nội dung này ngay tại Báo cáo nghiên cứu khả thi giúp tạo sự kết nối giữa phương án đầu tư và bước tổ chức lựa chọn nhà thầu sau khi dự án được phê duyệt.
Phương án phân chia gói thầu cần được xem xét cùng với phạm vi thiết kế, tiến độ và cách thức tổ chức thực hiện. Mỗi gói thầu phải được đặt trong tổng thể để bảo đảm khả năng phối hợp trong quá trình triển khai.
Đối với dự án đầu tư xây dựng tại đô thị, Báo cáo phải có nội dung về phát triển đô thị tăng trưởng xanh. Yêu cầu này đưa yếu tố phát triển đô thị bền vững vào quá trình nghiên cứu dự án.
Đối với dự án xây dựng công trình hạ tầng đô thị, dự án khu đô thị và dự án xây dựng nhà ở tại đô thị, Báo cáo còn phải có nội dung về thích ứng với biến đổi khí hậu theo pháp luật về quản lý và phát triển đô thị.
Như vậy, các dự án trong đô thị không chỉ được xem xét từ góc độ công trình riêng lẻ mà còn phải đặt trong mục tiêu phát triển chung của đô thị.
Đối với dự án đầu tư kinh doanh, nội dung thuyết minh không hoàn toàn giống dự án đầu tư công. Báo cáo phải thể hiện những nội dung được quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g và p khoản 1, đồng thời bổ sung các nội dung theo yêu cầu của người quyết định đầu tư.
Điều này có nghĩa những vấn đề nền tảng như mục tiêu, địa điểm, đất đai, điều kiện thực hiện, phân chia dự án, môi trường, bồi thường, tiến độ và các yêu cầu liên quan đến đô thị vẫn phải được thể hiện. Những nội dung khác được xác định thêm theo yêu cầu quản lý và quyết định đầu tư của dự án.
Đối với dự án đầu tư xây dựng nhà ở và khu đô thị, Báo cáo phải đáp ứng thêm một nhóm yêu cầu đặc thù. Trước hết phải làm rõ sự phù hợp về số lượng và diện tích các loại nhà ở với chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở theo pháp luật về nhà ở.
Đồng thời, số lượng các loại nhà ở phải tương thích với chỉ tiêu dân số theo quy hoạch được sử dụng làm căn cứ lập dự án. Đây là mối quan hệ rất quan trọng bởi quy mô dân số có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội.
Nếu dự án được thực hiện tại đô thị, Báo cáo phải thuyết minh việc triển khai dự án đáp ứng mục tiêu và định hướng phát triển đô thị theo chương trình phát triển đô thị.
Ngoài ra, phải làm rõ khả năng kết nối hệ thống hạ tầng kỹ thuật của dự án với khu vực bên ngoài. Một dự án nhà ở hoặc khu đô thị không thể vận hành độc lập hoàn toàn mà phải có khả năng kết nối với hệ thống hạ tầng chung.
Báo cáo còn phải xây dựng kế hoạch thực hiện và hoàn thành các công trình hạ tầng kỹ thuật trước khi khai thác nhà ở nếu có, đồng thời xác định kế hoạch xây dựng hạ tầng xã hội và những công trình khác trong dự án.
Yêu cầu này nhằm bảo đảm sự đồng bộ giữa nhà ở và hạ tầng phục vụ cư dân. Việc hoàn thành nhà ở nhưng hạ tầng cần thiết chưa đáp ứng có thể ảnh hưởng đến khả năng khai thác dự án.
Đối với các khu vực, công trình hoặc dịch vụ công ích phải bàn giao cho Nhà nước quản lý, khai thác, sử dụng hoặc được tổ chức quản lý, khai thác, sử dụng sau khi hoàn thành đầu tư xây dựng, Báo cáo phải xác định kế hoạch và danh mục tương ứng nếu có yêu cầu.
Đồng thời phải xác định trách nhiệm của chủ đầu tư và các bên liên quan trong việc bàn giao, khai thác và sử dụng.
Các nội dung về tiến độ xây dựng, thời điểm đưa công trình vào hoạt động và trách nhiệm bàn giao trong Báo cáo phải phù hợp với chủ trương đầu tư nếu dự án đã có chủ trương.
Đối với dự án được lập theo dự án thành phần hoặc theo giai đoạn thực hiện, Báo cáo phải làm rõ mục tiêu, quy mô và thời gian thực hiện của toàn bộ dự án trước khi đi sâu vào từng phần.
Nếu chia thành dự án thành phần, phải xác định mục tiêu, quy mô và thời gian thực hiện của từng dự án thành phần, đồng thời chứng minh thời gian của từng phần phù hợp với thời gian chung.
Nếu chia theo giai đoạn, phương án phân chia phải bảo đảm tổng thời gian thực hiện và phù hợp với chủ trương đầu tư đã được phê duyệt.
Một nguyên tắc đặc biệt quan trọng là phải bảo đảm khả năng kết nối và vận hành toàn bộ dự án. Việc chia dự án thành nhiều phần không được dẫn đến tình trạng từng phần hoàn thành nhưng toàn hệ thống không thể hoạt động đồng bộ.
Báo cáo cũng phải làm rõ việc bàn giao các công trình, dịch vụ công ích theo từng dự án thành phần trong trường hợp có yêu cầu tương ứng.
Đối với dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 28 của Nghị định, Báo cáo còn phải nêu rõ danh mục, quy mô và thời gian thực hiện của những dự án thành phần còn lại.
Quan trọng hơn, phải có các giải pháp bảo đảm sự đồng bộ giữa hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội nếu có của toàn bộ dự án. Việc đầu tư một cấu phần hạ tầng phải được đặt trong mối quan hệ với các cấu phần khác để bảo đảm khả năng vận hành chung.
Đối với dự án sử dụng công nghệ hạn chế chuyển giao hoặc dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường có sử dụng công nghệ, Báo cáo phải có giải trình về công nghệ theo pháp luật về chuyển giao công nghệ.
Yêu cầu này cần được phân biệt với việc mô tả hoặc lựa chọn công nghệ thông thường. Khi thuộc trường hợp phải giải trình, dự án phải thực hiện theo cơ chế của pháp luật chuyên ngành về chuyển giao công nghệ.
Đối với dự án PPP, nội dung thuyết minh Báo cáo nghiên cứu khả thi được thực hiện theo pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Điều này phản ánh cơ chế quản lý riêng của loại dự án này.
Bên cạnh phần thuyết minh, một cấu phần không thể tách rời của Báo cáo nghiên cứu khả thi là thiết kế xây dựng. Nội dung thiết kế được thực hiện theo Điều 20, Điều 21 hoặc Điều 22 của Nghị định, tương ứng với bước thiết kế được lựa chọn lập tại Báo cáo nghiên cứu khả thi.
Thiết kế là sự cụ thể hóa về mặt kỹ thuật của phương án đầu tư. Vì vậy, thiết kế phải thống nhất với mục tiêu, quy mô, công suất, địa điểm, chức năng sử dụng đất, công nghệ và các điều kiện được xác định trong phần thuyết minh.
Ngược lại, thiết kế cũng là cơ sở quan trọng để xác định tổng mức đầu tư và xây dựng phương án triển khai. Nếu thiết kế thay đổi đáng kể thì nhiều nội dung khác của Báo cáo có thể phải được xem xét tương ứng.
Nhìn tổng thể, Báo cáo nghiên cứu khả thi có thể được hiểu như một chuỗi logic bắt đầu từ câu hỏi “vì sao phải đầu tư”, sau đó lần lượt giải quyết “đầu tư để làm gì”, “quy mô bao nhiêu”, “thực hiện ở đâu”, “có phù hợp với quy hoạch không”, “điều kiện thực hiện như thế nào”, “xây dựng bằng giải pháp gì”, “cần bao nhiêu vốn”, “nguồn vốn được bảo đảm ra sao”, “thực hiện trong bao lâu”, “hiệu quả mang lại là gì” và cuối cùng “công trình sẽ được vận hành, khai thác và bảo trì như thế nào”.
Đối với dự án phức tạp, chuỗi câu hỏi này còn được mở rộng sang việc phân chia dự án thành phần, phân kỳ đầu tư, kết nối hạ tầng, bàn giao công trình công ích, phát triển đô thị tăng trưởng xanh, thích ứng biến đổi khí hậu và quản lý công nghệ.
Điều quan trọng nhất là các nội dung phải thống nhất với nhau. Nếu mục tiêu thay đổi thì quy mô có thể phải thay đổi; quy mô thay đổi có thể ảnh hưởng đến đất đai, thiết kế và tổng mức đầu tư; công nghệ thay đổi có thể ảnh hưởng đến thiết bị, chi phí, nhân lực và vận hành; tiến độ thay đổi có thể tác động đến kế hoạch vốn; còn việc thay đổi phương án phân chia dự án có thể ảnh hưởng đến khả năng kết nối và khai thác toàn bộ hệ thống.
Vì vậy, Báo cáo nghiên cứu khả thi không nên được lập theo cách mỗi nội dung là một phần hoàn toàn độc lập. Chất lượng của Báo cáo nằm ở khả năng chứng minh rằng toàn bộ những yếu tố của dự án có thể kết nối thành một phương án đầu tư thống nhất và có khả năng triển khai.
Tóm lại, Báo cáo nghiên cứu khả thi là hồ sơ tổng hợp từ cơ sở pháp lý, mục tiêu, quy hoạch và đất đai đến kỹ thuật, tài chính, tiến độ và vận hành. Đối với dự án đầu tư công, Báo cáo phải làm rõ sự cần thiết, mục tiêu, quy mô; địa điểm và chức năng sử dụng đất; sự phù hợp với quy hoạch; các điều kiện thực hiện; phương án dự án thành phần và phân kỳ nếu có; môi trường; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; tiến độ; tổng mức đầu tư; nguồn vốn, khả năng thu hồi vốn, tài chính và rủi ro; chi phí khai thác và bảo trì; hiệu quả kinh tế - xã hội; quốc phòng, an ninh; đào tạo, chuyển giao công nghệ, vận hành và bảo trì; cùng các cơ chế phối hợp và hỗ trợ cần thiết. Trường hợp lập FEED hoặc thiết kế kỹ thuật và lựa chọn nhà thầu ngay sau khi phê duyệt phải đề xuất kế hoạch tổng thể lựa chọn nhà thầu và phương án phân chia gói thầu. Dự án tại đô thị phải xem xét tăng trưởng xanh và các dự án đô thị tương ứng phải có nội dung thích ứng biến đổi khí hậu. Dự án đầu tư kinh doanh thực hiện những nội dung được pháp luật xác định cùng yêu cầu của người quyết định đầu tư. Dự án nhà ở, khu đô thị phải làm rõ sự phù hợp về nhà ở, dân số, phát triển đô thị, kết nối và tiến độ hạ tầng cũng như trách nhiệm bàn giao. Dự án được chia thành dự án thành phần hoặc giai đoạn phải bảo đảm mục tiêu, thời gian, kết nối và vận hành tổng thể. Dự án hạ tầng kỹ thuật phải bảo đảm đồng bộ với các dự án thành phần và hạ tầng xã hội có liên quan. Dự án sử dụng công nghệ thuộc trường hợp đặc biệt phải giải trình theo pháp luật về chuyển giao công nghệ; dự án PPP thực hiện theo pháp luật PPP; còn thiết kế xây dựng phải được lập theo Điều 20, Điều 21 hoặc Điều 22 tương ứng với bước thiết kế được lựa chọn. Khi toàn bộ các nội dung này được xây dựng đồng bộ và liên kết với nhau, Báo cáo nghiên cứu khả thi mới thực sự trở thành căn cứ toàn diện để đánh giá tính khả thi, tổ chức thẩm định, phê duyệt và triển khai dự án đầu tư xây dựng trong thực tế.

CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ & THIẾT KẾ XÂY DỰNG MINH PHƯƠNG
Địa chỉ: Số 28B Mai Thị Lựu, Phường Đa Kao, Q.1, TPHCM
Hotline: 0903649782 - (028) 3514 6426
Email: nguyenthanhmp156@gmail.com
Xem thêm