phạm vi lập Báo cáo nghiên cứu khả thi, các trường hợp chỉ lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật

phạm vi lập Báo cáo nghiên cứu khả thi, các trường hợp chỉ lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật

Báo cáo nghiên cứu khả thi, 

Việc lập Báo cáo nghiên cứu khả thi và Báo cáo kinh tế - kỹ thuật là một trong những bước nền tảng của quá trình chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng. Đây không đơn thuần là việc lựa chọn một loại hồ sơ để hoàn thành thủ tục, mà còn là quá trình xác định mức độ nghiên cứu cần thiết tương ứng với quy mô, tính chất, nội dung kỹ thuật và yêu cầu quản lý của từng dự án. Tùy từng trường hợp, dự án có thể phải lập Báo cáo nghiên cứu khả thi cho toàn bộ dự án, từng dự án thành phần hoặc một hay một số công trình; có thể chỉ cần lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật; thậm chí đối với một số công tác bảo trì còn không phải lập dự án đầu tư xây dựng. Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu chi tiết, cơ quan chuẩn bị dự án được phép thay đổi một số nội dung so với quy hoạch hoặc chủ trương đầu tư mà vẫn được coi là phù hợp nếu những thay đổi đó nằm trong giới hạn pháp luật cho phép.

Trước hết, Báo cáo nghiên cứu khả thi có thể được lập cho toàn bộ dự án. Đây là cách thức thể hiện đầy đủ nhất, trong đó toàn bộ phạm vi đầu tư được nghiên cứu và đánh giá trong cùng một hồ sơ. Tuy nhiên, đối với những dự án có nhiều dự án thành phần, nhiều công trình hoặc được tổ chức thực hiện theo từng giai đoạn, pháp luật cho phép Báo cáo nghiên cứu khả thi được lập cho từng dự án thành phần hoặc cho một hay một số công trình.

Việc lựa chọn phạm vi lập Báo cáo không được thực hiện tùy ý mà phải phù hợp với phân kỳ đầu tư. Nếu dự án đã xác định các giai đoạn triển khai khác nhau thì việc lập Báo cáo cho từng phần phải có sự tương thích với trình tự và thời gian thực hiện đó.

Đồng thời, phạm vi và nội dung lập Báo cáo phải bảo đảm các yêu cầu đã được xác định tại quyết định hoặc văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư, văn bản phê duyệt thông tin dự án nếu có. Điều này tạo ra sự liên tục giữa giai đoạn hình thành chủ trương với giai đoạn nghiên cứu chi tiết.

Nói cách khác, việc cho phép lập Báo cáo nghiên cứu khả thi theo từng dự án thành phần hoặc một số công trình không đồng nghĩa với việc tách những phần đó hoàn toàn khỏi dự án tổng thể. Mỗi phần vẫn phải được đặt trong mối quan hệ với mục tiêu chung, phân kỳ đầu tư và các yêu cầu đã được cấp có thẩm quyền xác lập.

Đối với những dự án có quy mô nhỏ hoặc tính chất kỹ thuật đơn giản, pháp luật cho phép chỉ lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật. Đây là cơ chế giúp mức độ chuẩn bị hồ sơ tương xứng với tính chất thực tế của dự án, tránh áp dụng cùng một yêu cầu nghiên cứu đối với mọi dự án mà không phân biệt quy mô và độ phức tạp.

Nhóm đầu tiên thuộc trường hợp chỉ cần lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật là dự án đầu tư xây dựng sử dụng cho mục đích tôn giáo. Việc xác định trường hợp này dựa vào mục đích sử dụng của dự án.

Nhóm thứ hai là dự án đầu tư xây dựng có tổng mức đầu tư không quá 40 tỷ đồng. Tuy nhiên, khi xác định ngưỡng 40 tỷ đồng không bao gồm chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng và tiền sử dụng đất.

Đây là một điểm cần đặc biệt chú ý trong quá trình phân loại dự án. Nếu tổng số tiền liên quan đến dự án vượt 40 tỷ đồng nhưng phần vượt phát sinh từ các khoản chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng hoặc tiền sử dụng đất thì không thể chỉ dựa vào tổng số tiền đó để kết luận dự án vượt ngưỡng.

Cần xác định đúng phần tổng mức đầu tư được sử dụng để đối chiếu với giới hạn 40 tỷ đồng sau khi loại trừ các khoản mà quy định yêu cầu không tính. Việc phân loại sai ngay từ bước này có thể dẫn đến lựa chọn sai loại Báo cáo cần lập.

Nhóm thứ ba là dự án sửa chữa nhằm mục đích bảo trì có quy mô nhóm C. Trong trường hợp dự án sửa chữa được hình thành để thực hiện mục tiêu bảo trì và thuộc quy mô nhóm C thì chỉ cần lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật.

Tuy nhiên, quy định này phải được đọc đồng thời với trường hợp công tác bảo trì không phải lập dự án đầu tư xây dựng. Nếu công tác bảo trì được thực hiện trên cơ sở thiết kế xây dựng của công trình hiện hữu hoặc bản chất công việc không cần lập thiết kế xây dựng thì không phải lập dự án đầu tư xây dựng.

Do đó, khi xử lý công việc sửa chữa, bảo trì, trước hết cần xác định có phải lập dự án đầu tư xây dựng hay không. Chỉ khi công việc thuộc trường hợp phải lập dự án mới tiếp tục xác định dự án có phải là dự án sửa chữa nhằm mục đích bảo trì quy mô nhóm C để áp dụng cơ chế lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật hay không.

Nhóm thứ tư là dự án nạo vét duy tu luồng hàng hải công cộng và đường thủy nội địa. Đây là nhóm được xác định trực tiếp theo tính chất của hoạt động đầu tư và chỉ cần lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật.

Nhóm thứ năm có cách xác định phức tạp hơn, bởi phải đồng thời xem xét tính chất đầu tư, cơ cấu chi phí, giá trị chi phí xây dựng và nhóm dự án. Đây là dự án đầu tư xây dựng có nội dung chủ yếu là mua sắm hàng hóa, cung cấp dịch vụ và lắp đặt thiết bị.

Đối với dự án này, phần chi phí xây dựng, không bao gồm chi phí thiết bị, phải thấp hơn 10% tổng mức đầu tư và đồng thời không quá 20 tỷ đồng.

Hai điều kiện về tỷ lệ và giá trị tuyệt đối phải được đáp ứng đồng thời. Nếu chi phí xây dựng chỉ chiếm 8% tổng mức đầu tư nhưng có giá trị 25 tỷ đồng thì không đáp ứng điều kiện không quá 20 tỷ đồng. Ngược lại, nếu chi phí xây dựng chỉ là 15 tỷ đồng nhưng chiếm 12% tổng mức đầu tư thì cũng không đáp ứng điều kiện thấp hơn 10%.

Ngoài hai điều kiện này còn phải kiểm tra nhóm và loại dự án, bởi cơ chế trên không áp dụng đối với dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A và dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư.

Như vậy, để xác định dự án chủ yếu mua sắm hàng hóa, cung cấp dịch vụ và lắp đặt thiết bị có được chỉ lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật hay không, cần kiểm tra ít nhất ba lớp điều kiện: tính chất chủ yếu của dự án, tỷ trọng và giá trị chi phí xây dựng, sau đó là loại hoặc nhóm dự án thuộc trường hợp loại trừ.

Qua các trường hợp trên có thể thấy tiêu chí xác định dự án chỉ lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật không được xây dựng theo một công thức duy nhất. Có trường hợp căn cứ vào mục đích sử dụng, có trường hợp căn cứ vào tổng mức đầu tư, có trường hợp căn cứ vào mục tiêu sửa chữa, bảo trì, có trường hợp căn cứ vào tính chất công việc và có trường hợp phải kết hợp nhiều tiêu chí.

Vì vậy, trong quá trình chuẩn bị dự án, việc phân loại phải được thực hiện trước khi quyết định cấu trúc hồ sơ. Nếu phân loại không chính xác thì toàn bộ quá trình lập, thẩm định và phê duyệt tiếp theo có thể phải xem xét lại.

Một điểm rất đáng chú ý là mặc dù các dự án thuộc nhóm nêu trên về nguyên tắc chỉ cần lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật, người quyết định đầu tư vẫn có quyền quyết định lập Báo cáo nghiên cứu khả thi trong những trường hợp nhất định.

Quyền này được đặt ra khi xuất hiện yêu cầu quản lý hoặc khi thiết kế công nghệ cần lập thiết kế cơ sở, thiết kế FEED hoặc thiết kế kỹ thuật.

Như vậy, việc lựa chọn giữa Báo cáo nghiên cứu khả thi và Báo cáo kinh tế - kỹ thuật không hoàn toàn chỉ phụ thuộc vào quy mô vốn. Mức độ phức tạp về công nghệ và yêu cầu quản lý cũng là những yếu tố có thể làm phát sinh nhu cầu nghiên cứu dự án ở mức độ đầy đủ hơn.

Ví dụ về nguyên tắc, một dự án có tổng mức đầu tư nằm trong ngưỡng chỉ cần lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật nhưng công nghệ được sử dụng đòi hỏi phải lập thiết kế FEED thì người quyết định đầu tư có thể quyết định lập Báo cáo nghiên cứu khả thi.

Tuy nhiên, việc lựa chọn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi trong trường hợp này không làm cho dự án tự động trở thành dự án phải thẩm định tại cơ quan chuyên môn về xây dựng.

Quy định xác định rõ các dự án thuộc khoản 2 nhưng được người quyết định đầu tư quyết định lập Báo cáo nghiên cứu khả thi theo yêu cầu quản lý hoặc thiết kế công nghệ không thuộc trường hợp phải thẩm định tại cơ quan chuyên môn về xây dựng.

Đây là điểm rất quan trọng để phân biệt giữa “loại Báo cáo được lập” và “thẩm quyền thẩm định”. Hai vấn đề này có liên quan nhưng không hoàn toàn đồng nhất.

Một dự án được lập Báo cáo nghiên cứu khả thi không có nghĩa trong mọi trường hợp Báo cáo đó đều phải được cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định. Đối với nhóm dự án đang xét, trách nhiệm tổ chức thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi thuộc về người quyết định đầu tư.

Sau khi dự án được phê duyệt, trách nhiệm tổ chức thẩm định thiết kế triển khai thuộc về chủ đầu tư. Việc tổ chức thẩm định phải bảo đảm các nội dung thẩm định tuân thủ quy định của pháp luật.

Như vậy, cơ chế trách nhiệm được phân định theo từng giai đoạn. Người quyết định đầu tư tổ chức thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi; chủ đầu tư tổ chức thẩm định thiết kế triển khai sau khi dự án được phê duyệt.

Việc dự án không phải thẩm định tại cơ quan chuyên môn về xây dựng không có nghĩa là bỏ qua hoạt động thẩm định. Hoạt động này vẫn được thực hiện nhưng trách nhiệm tổ chức được giao cho những chủ thể khác theo quy định.

Đối với công tác bảo trì, quy định tiếp tục tạo ra một cơ chế đơn giản hóa phù hợp với bản chất công việc. Nếu công tác bảo trì được thực hiện trên cơ sở thiết kế xây dựng của công trình hiện hữu hoặc không cần lập thiết kế xây dựng thì không phải lập dự án đầu tư xây dựng.

Điều này có nghĩa không phải mọi khoản chi hoặc hoạt động xây dựng liên quan đến công trình hiện hữu đều phải bắt đầu bằng việc lập một dự án đầu tư xây dựng mới.

Khi công việc bảo trì có thể được thực hiện dựa trên hồ sơ thiết kế của công trình đang tồn tại hoặc không cần thiết kế mới thì pháp luật không đặt ra yêu cầu lập dự án.

Việc phân biệt giữa công tác bảo trì không phải lập dự án với dự án sửa chữa nhằm mục đích bảo trì thuộc nhóm C có ý nghĩa thực tế rất lớn. Một bên không phải lập dự án; bên còn lại vẫn là dự án đầu tư xây dựng nhưng được áp dụng hình thức Báo cáo kinh tế - kỹ thuật.

Bên cạnh việc xác định loại hồ sơ cần lập, quy định còn giải quyết một vấn đề thường phát sinh trong thực tế là sự khác biệt giữa phương án được nghiên cứu chi tiết tại Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật với những nội dung đã được thể hiện trong quy hoạch hoặc chủ trương đầu tư.

Khi lập Báo cáo, cơ quan chuẩn bị dự án được phép thay đổi một số nội dung so với quy hoạch được sử dụng làm căn cứ lập dự án, văn bản phê duyệt hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư mà vẫn được xem là phù hợp.

Tuy nhiên, đây không phải quyền thay đổi không giới hạn. Quy định xác định cụ thể phạm vi được điều chỉnh đối với công trình không theo tuyến, công trình theo tuyến và các chỉ tiêu, thông số tại văn bản quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư.

Đối với công trình không theo tuyến được xác định tại quy hoạch đô thị và nông thôn, cơ quan chuẩn bị dự án được điều chỉnh bố cục, hình khối và thông số kỹ thuật của công trình.

Sự linh hoạt này xuất phát từ thực tế rằng quy hoạch thường xác lập những chỉ tiêu và định hướng chung, còn đến giai đoạn lập dự án, phương án công trình mới được nghiên cứu ở mức chi tiết hơn. Quá trình nghiên cứu có thể cho thấy cần thay đổi cách bố trí hoặc một số thông số kỹ thuật để tạo ra phương án hợp lý hơn.

Tuy nhiên, sau điều chỉnh vẫn phải bảo đảm các chỉ tiêu và thông số được quy hoạch đô thị và nông thôn phê duyệt về chỉ tiêu sử dụng đất và chỉ giới xây dựng.

Đồng thời phải tuân thủ quy định về quản lý không gian và thiết kế đô thị, quy chế quản lý kiến trúc nếu có và quy chuẩn kỹ thuật về quy hoạch xây dựng.

Như vậy, phạm vi được linh hoạt chủ yếu nằm ở giải pháp cụ thể bên trong khung quản lý mà quy hoạch đã xác lập. Cơ quan chuẩn bị dự án có thể điều chỉnh cách bố trí hoặc hình khối nhưng không được sử dụng cơ chế này để phá vỡ các chỉ tiêu quy hoạch cốt lõi.

Điều quan trọng không phải chỉ là xác định phương án mới có khác phương án ban đầu hay không, mà phải kiểm tra sau khi thay đổi các chỉ tiêu và yêu cầu bắt buộc còn được bảo đảm hay không.

Đối với công trình theo tuyến, đặc điểm kỹ thuật và không gian khác với công trình không theo tuyến nên phạm vi điều chỉnh cũng được quy định riêng.

Cơ quan chuẩn bị dự án được điều chỉnh ranh giới và diện tích sử dụng đất. Đồng thời có thể điều chỉnh cục bộ hướng tuyến và điểm khống chế nhằm bảo đảm yêu cầu kỹ thuật.

Quy định này có ý nghĩa thực tiễn lớn bởi đối với công trình tuyến, kết quả khảo sát chi tiết có thể làm xuất hiện những điều kiện mà ở giai đoạn quy hoạch chưa thể xác định đầy đủ. Khi đó, việc hiệu chỉnh cục bộ có thể cần thiết để bảo đảm giải pháp kỹ thuật.

Tuy nhiên, điều chỉnh hướng tuyến hoặc điểm khống chế không được làm thay đổi mục tiêu dự án. Đây là giới hạn quan trọng nhất.

Đồng thời, phương án điều chỉnh phải bảo đảm những yêu cầu đã được nêu tại quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc bảo đảm phương án tuyến công trình, vị trí công trình và tổng mặt bằng đã được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận.

Như vậy, đối với công trình tuyến, pháp luật cho phép tối ưu hóa phương án kỹ thuật nhưng vẫn giữ nguyên định hướng và mục tiêu cơ bản của dự án.

Việc điều chỉnh ranh giới hoặc diện tích sử dụng đất cũng cần được hiểu trong cùng nguyên tắc. Đây là khả năng hiệu chỉnh để phục vụ phương án tuyến chứ không phải quyền mở rộng hoặc thay đổi phạm vi dự án một cách tùy ý.

Nếu việc điều chỉnh dẫn đến thay đổi bản chất, mục tiêu hoặc vượt ra ngoài những yêu cầu của quy hoạch hay phương án đã được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận thì cần xem xét theo các thủ tục tương ứng thay vì mặc nhiên áp dụng cơ chế linh hoạt này.

Nhóm thứ ba là việc điều chỉnh các chỉ tiêu, thông số trong văn bản quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư đã được phê duyệt.

Quy định cho phép điều chỉnh một số chỉ tiêu và thông số nếu sự thay đổi đó không thuộc trường hợp bắt buộc phải điều chỉnh chủ trương đầu tư theo pháp luật về đầu tư, đầu tư công hoặc đầu tư theo phương thức đối tác công tư.

Đây là ranh giới cần được kiểm tra đặc biệt cẩn thận. Cơ chế linh hoạt trong quá trình lập Báo cáo không được sử dụng để thay thế một thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư mà pháp luật chuyên ngành bắt buộc phải thực hiện.

Do đó, khi phương án trong Báo cáo khác với một chỉ tiêu hoặc thông số đã được quyết định tại chủ trương đầu tư, không nên kết luận ngay rằng dự án không còn phù hợp. Trước tiên cần xác định bản chất và mức độ thay đổi.

Nếu thay đổi không thuộc trường hợp phải điều chỉnh chủ trương theo pháp luật tương ứng thì cơ quan chuẩn bị dự án có thể thực hiện việc điều chỉnh trong Báo cáo và vẫn được xem là phù hợp với chủ trương đầu tư.

Ngược lại, nếu nội dung thay đổi thuộc trường hợp pháp luật yêu cầu phải điều chỉnh chủ trương đầu tư thì phải thực hiện thủ tục điều chỉnh theo quy định. Khi đó không thể viện dẫn cơ chế cho phép thay đổi một số chỉ tiêu, thông số tại giai đoạn lập Báo cáo để bỏ qua thủ tục cần thiết.

Nhìn từ góc độ quản lý, cơ chế này tạo ra sự cân bằng giữa tính ổn định của chủ trương đầu tư và nhu cầu hoàn thiện phương án dự án ở giai đoạn nghiên cứu chi tiết.

Chủ trương đầu tư cần được tôn trọng bởi đó là cơ sở hình thành dự án. Tuy nhiên, chủ trương không thể thay thế hoàn toàn quá trình khảo sát, thiết kế và nghiên cứu kỹ thuật. Khi có dữ liệu chi tiết hơn, một số thông số có thể cần được hiệu chỉnh mà không làm thay đổi bản chất của quyết định đầu tư.

Do đó, pháp luật không buộc mọi thay đổi nhỏ đều phải quay lại điều chỉnh chủ trương, nhưng đồng thời thiết lập một ranh giới: khi thay đổi đạt đến mức pháp luật chuyên ngành xác định phải điều chỉnh chủ trương thì thủ tục đó trở thành bắt buộc.

Có thể hệ thống hóa toàn bộ quá trình xác định hồ sơ dự án thành một chuỗi kiểm tra tương đối rõ ràng. Trước hết cần xác định công việc dự kiến thực hiện có phải lập dự án đầu tư xây dựng hay không.

Nếu chỉ là công tác bảo trì thực hiện trên cơ sở thiết kế của công trình hiện hữu hoặc không cần lập thiết kế xây dựng thì không phải lập dự án đầu tư xây dựng.

Nếu phải lập dự án, bước tiếp theo là kiểm tra dự án có thuộc một trong các trường hợp chỉ cần lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật hay không.

Cần kiểm tra dự án có sử dụng cho mục đích tôn giáo hay không; có thuộc ngưỡng tổng mức đầu tư không quá 40 tỷ đồng sau khi loại trừ các khoản chi phí được quy định hay không; có phải dự án sửa chữa nhằm mục đích bảo trì nhóm C hay không; có phải dự án nạo vét duy tu luồng hàng hải công cộng hoặc đường thủy nội địa hay không.

Nếu dự án chủ yếu là mua sắm hàng hóa, cung cấp dịch vụ và lắp đặt thiết bị thì phải kiểm tra tiếp chi phí xây dựng có đồng thời thấp hơn 10% tổng mức đầu tư và không quá 20 tỷ đồng hay không, đồng thời xác định dự án có thuộc trường hợp loại trừ là dự án quan trọng quốc gia, nhóm A hoặc PPP hay không.

Sau khi xác định dự án thuộc trường hợp chỉ cần lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật, cần xem xét người quyết định đầu tư có yêu cầu lập Báo cáo nghiên cứu khả thi hay không.

Nếu yêu cầu quản lý hoặc thiết kế công nghệ cần thiết kế cơ sở, FEED hoặc thiết kế kỹ thuật thì người quyết định đầu tư có thể lựa chọn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi.

Khi lựa chọn phương án này, phải đồng thời nhận diện đúng cơ chế thẩm định: dự án không thuộc trường hợp phải thẩm định tại cơ quan chuyên môn về xây dựng; người quyết định đầu tư tổ chức thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi và chủ đầu tư tổ chức thẩm định thiết kế triển khai sau khi dự án được phê duyệt.

Đối với dự án phải lập Báo cáo nghiên cứu khả thi, cần tiếp tục xác định phạm vi lập hồ sơ. Báo cáo có thể lập cho toàn bộ dự án, từng dự án thành phần hoặc một hay một số công trình nhưng phải phù hợp với phân kỳ và các yêu cầu tại chủ trương đầu tư hoặc văn bản phê duyệt thông tin dự án.

Trong quá trình nghiên cứu chi tiết, nếu phương án đề xuất khác với quy hoạch hoặc chủ trương thì cần thực hiện thêm một bước phân loại thay đổi.

Nếu là công trình không theo tuyến, cần kiểm tra các chỉ tiêu sử dụng đất, chỉ giới xây dựng, quản lý không gian, thiết kế đô thị, quy chế kiến trúc và quy chuẩn quy hoạch.

Nếu là công trình theo tuyến, cần kiểm tra mục tiêu dự án, yêu cầu kỹ thuật, quy hoạch đã được phê duyệt và phương án tuyến, vị trí công trình hoặc tổng mặt bằng đã được chấp thuận.

Nếu là thay đổi chỉ tiêu hoặc thông số của chủ trương đầu tư thì phải kiểm tra pháp luật về đầu tư, đầu tư công hoặc PPP để xác định có thuộc trường hợp bắt buộc điều chỉnh chủ trương hay không.

Cách tiếp cận này giúp tránh hai thái cực trong quá trình chuẩn bị dự án. Một mặt là quá cứng nhắc, cho rằng mọi thay đổi dù nhỏ so với quy hoạch hoặc chủ trương đều phải thực hiện lại thủ tục. Mặt khác là quá rộng, cho rằng khi lập Báo cáo có thể thay đổi bất kỳ nội dung nào miễn có lý do kỹ thuật. Cả hai cách hiểu đều không phản ánh đầy đủ cơ chế được quy định.

Nguyên tắc đúng là dự án được phép có sự linh hoạt trong quá trình cụ thể hóa nhưng sự linh hoạt luôn nằm trong giới hạn. Đối với quy hoạch, giới hạn là các chỉ tiêu và yêu cầu quản lý phải được bảo đảm. Đối với công trình tuyến, mục tiêu dự án và những yêu cầu đã được phê duyệt hoặc chấp thuận phải được duy trì. Đối với chủ trương đầu tư, giới hạn nằm ở ranh giới giữa thay đổi được phép cụ thể hóa và thay đổi bắt buộc phải thực hiện thủ tục điều chỉnh chủ trương.

Từ đó có thể thấy quy định về lập Báo cáo nghiên cứu khả thi và Báo cáo kinh tế - kỹ thuật được xây dựng trên nguyên tắc tương xứng. Dự án càng lớn và phức tạp thì mức độ nghiên cứu càng cần đầy đủ; dự án nhỏ hoặc có tính chất kỹ thuật đơn giản có thể sử dụng hồ sơ gọn hơn; hoạt động bảo trì đơn giản có thể không phải lập dự án. Tuy nhiên, khi yêu cầu quản lý hoặc công nghệ trở nên phức tạp hơn thì người quyết định đầu tư có quyền lựa chọn mức độ nghiên cứu cao hơn.

Tóm lại, để áp dụng đúng quy định về lập Báo cáo nghiên cứu khả thi và Báo cáo kinh tế - kỹ thuật, trước hết phải phân loại chính xác dự án. Báo cáo nghiên cứu khả thi có thể được lập cho toàn bộ dự án, từng dự án thành phần hoặc một hay một số công trình nhưng phải phù hợp với phân kỳ đầu tư và những yêu cầu đã được xác định tại chủ trương đầu tư hoặc văn bản phê duyệt thông tin dự án. Các dự án sử dụng cho mục đích tôn giáo; dự án có tổng mức đầu tư không quá 40 tỷ đồng sau khi loại trừ chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng và tiền sử dụng đất; dự án sửa chữa nhằm mục đích bảo trì quy mô nhóm C; dự án nạo vét duy tu luồng hàng hải công cộng, đường thủy nội địa; và dự án chủ yếu mua sắm hàng hóa, cung cấp dịch vụ, lắp đặt thiết bị đáp ứng đồng thời điều kiện về tỷ lệ và giá trị chi phí xây dựng thuộc trường hợp chỉ cần lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật, trừ các trường hợp loại trừ được quy định. Người quyết định đầu tư vẫn có thể quyết định lập Báo cáo nghiên cứu khả thi đối với các dự án này nếu yêu cầu quản lý hoặc thiết kế công nghệ đòi hỏi thiết kế cơ sở, FEED hoặc thiết kế kỹ thuật; khi đó dự án không thuộc trường hợp phải thẩm định tại cơ quan chuyên môn về xây dựng, người quyết định đầu tư tổ chức thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi và chủ đầu tư tổ chức thẩm định thiết kế triển khai sau khi dự án được phê duyệt. Đối với công tác bảo trì dựa trên thiết kế của công trình hiện hữu hoặc không cần thiết kế xây dựng thì không phải lập dự án đầu tư xây dựng. Trong quá trình lập Báo cáo, cơ quan chuẩn bị dự án được điều chỉnh một số giải pháp của công trình không theo tuyến nếu vẫn bảo đảm các chỉ tiêu quy hoạch; được điều chỉnh ranh giới, diện tích đất và cục bộ hướng tuyến, điểm khống chế của công trình tuyến nếu không làm thay đổi mục tiêu và vẫn đáp ứng những yêu cầu đã được phê duyệt hoặc chấp thuận; đồng thời được điều chỉnh một số chỉ tiêu, thông số của chủ trương đầu tư khi sự thay đổi chưa thuộc trường hợp bắt buộc phải điều chỉnh chủ trương theo pháp luật chuyên ngành. Toàn bộ cơ chế này vừa bảo đảm tính ổn định của quy hoạch và quyết định đầu tư, vừa tạo khoảng linh hoạt cần thiết để phương án dự án được hoàn thiện trên cơ sở khảo sát, thiết kế và yêu cầu kỹ thuật cụ thể trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư.

 

CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ & THIẾT KẾ XÂY DỰNG MINH PHƯƠNG

Địa chỉ: Số 28B Mai Thị Lựu, Phường Đa Kao, Q.1, TPHCM

Hotline:  0903649782 - (028) 3514 6426

Email: nguyenthanhmp156@gmail.com

 


Tin tức liên quan

Dự án đầu tư công đặc biệt
Dự án đầu tư công đặc biệt

48 Lượt xem

Dự án đầu tư công đặc biệt

KHẢO SÁT XÂY DỰNG
KHẢO SÁT XÂY DỰNG

50 Lượt xem

KHẢO SÁT XÂY DỰNG

THIẾT KẾ XÂY DỰNG
THIẾT KẾ XÂY DỰNG

45 Lượt xem

THIẾT KẾ XÂY DỰNG

Nhiệm vụ thiết kế xây dựng
Nhiệm vụ thiết kế xây dựng

51 Lượt xem

Nhiệm vụ thiết kế xây dựng

Nội dung thiết kế cơ sở
Nội dung thiết kế cơ sở

48 Lượt xem

Nội dung thiết kế cơ sở

Nội dung thiết kế FEED
Nội dung thiết kế FEED

69 Lượt xem

Nội dung thiết kế FEED


Bình luận
  • Đánh giá của bạn
Đã thêm vào giỏ hàng