Báo cáo thời gian thẩm định BCNCKT

Báo cáo thời gian thẩm định và nội dung, kết quả thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi,

Thời gian, nội dung và kết quả thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi là những yếu tố có quan hệ trực tiếp với nhau trong quá trình cơ quan chuyên môn về xây dựng hoặc Hội đồng thẩm định thực hiện nhiệm vụ thẩm định dự án. Nếu trình tự thẩm định xác định hồ sơ được tiếp nhận, xử lý và trả kết quả như thế nào thì quy định về thời gian xác định giới hạn mà cơ quan thẩm định phải hoàn thành công việc, còn quy định về nội dung thẩm định xác định những vấn đề cụ thể phải được xem xét trước khi đưa ra kết luận. Vì vậy, để hiểu đầy đủ cơ chế thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi cần đồng thời xem xét ba vấn đề: thời điểm bắt đầu tính thời gian thẩm định, thời hạn tối đa tương ứng với từng nhóm dự án và phạm vi những nội dung mà cơ quan thẩm định phải đánh giá để hình thành kết quả cuối cùng.

Nguyên tắc đầu tiên cần xác định là thời gian thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi được tính từ ngày cơ quan thẩm định nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Đây là mốc có ý nghĩa đặc biệt bởi thời gian thẩm định không mặc nhiên được tính từ ngày cơ quan chuẩn bị dự án bắt đầu gửi hồ sơ nếu hồ sơ chưa đáp ứng điều kiện đầy đủ và hợp lệ. Quy định này cần được đặt trong mối liên hệ với yêu cầu về thành phần hồ sơ và trình tự tiếp nhận. Hồ sơ phải có đủ tài liệu cần thiết, đúng quy cách và được xác nhận theo quy định trước khi trở thành cơ sở để tính thời gian thẩm định.

Như vậy, việc chuẩn bị hồ sơ đầy đủ ngay từ đầu không chỉ ảnh hưởng đến khả năng được tiếp nhận mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ của toàn bộ thủ tục. Nếu hồ sơ còn thiếu thành phần và cơ quan chuyên môn phải yêu cầu bổ sung thì việc xác định thời gian thẩm định phải căn cứ vào thời điểm cơ quan thẩm định thực sự nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định.

Thời gian thẩm định được phân chia theo quy mô, nhóm dự án và trong một số trường hợp còn căn cứ vào cấp công trình. Đối với dự án quan trọng quốc gia, thời gian thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi không quá 60 ngày. Đây là mức thời gian dài nhất trong các nhóm được quy định, phù hợp với phạm vi và tính chất của dự án quan trọng quốc gia.

Đối với dự án nhóm A, thời gian thẩm định tiếp tục được phân thành hai trường hợp. Nếu dự án nhóm A có công trình cấp I trở lên thì thời gian thẩm định không quá 25 ngày làm việc. Đối với các dự án nhóm A còn lại, thời gian thẩm định không quá 20 ngày làm việc.

Việc phân biệt này cho thấy nhóm dự án không phải là căn cứ duy nhất để xác định thời gian. Trong cùng nhóm A, cấp của công trình cũng ảnh hưởng đến thời hạn thẩm định. Dự án có công trình cấp I trở lên được áp dụng thời gian tối đa dài hơn so với các dự án nhóm A còn lại.

Cách xác định tương tự được áp dụng đối với dự án nhóm B. Dự án nhóm B có công trình cấp I trở lên có thời gian thẩm định không quá 20 ngày làm việc, trong khi các dự án nhóm B còn lại có thời gian không quá 16 ngày làm việc.

Đối với dự án nhóm C, nếu có công trình cấp I trở lên thì thời gian thẩm định không quá 15 ngày làm việc. Các dự án nhóm C còn lại có thời gian thẩm định không quá 12 ngày làm việc.

Có thể thấy hệ thống thời gian được thiết kế theo hướng phân tầng. Dự án quan trọng quốc gia có thời hạn riêng là 60 ngày. Đối với các dự án nhóm A, B và C, thời gian được xác định trên cơ sở kết hợp giữa nhóm dự án và việc dự án có công trình cấp I trở lên hay không. Nhóm dự án càng lớn hoặc công trình thuộc cấp cao hơn thì khoảng thời gian tối đa dành cho việc thẩm định tương ứng được xác định dài hơn.

Khi áp dụng thực tế, do đó cần xác định đúng nhóm dự án trước, sau đó kiểm tra cấp công trình để lựa chọn mốc thời gian tương ứng. Không nên chỉ căn cứ vào nhóm A, B hoặc C mà bỏ qua yếu tố cấp công trình, bởi trong mỗi nhóm có hai mức thời gian khác nhau.

Đối với dự án nhóm A có công trình cấp I trở lên, giới hạn là 25 ngày làm việc; nhóm A còn lại là 20 ngày làm việc. Đối với nhóm B, hai mốc tương ứng là 20 và 16 ngày làm việc. Đối với nhóm C, hai mốc tương ứng là 15 và 12 ngày làm việc. Việc xác định đúng ngay từ đầu giúp cơ quan chuẩn bị dự án có cơ sở theo dõi tiến độ xử lý hồ sơ.

Bên cạnh thời hạn thông thường, quy định còn cho phép gia hạn thời gian thẩm định khi cần thiết. Tuy nhiên, quyền gia hạn không được thực hiện tùy ý mà chịu sự kiểm soát về hình thức, số lần và thời gian tối đa.

Khi cần gia hạn, cơ quan thẩm định phải có văn bản gửi đến người đề nghị thẩm định. Văn bản phải nêu rõ lý do gia hạn và thời gian gia hạn. Điều này bảo đảm việc kéo dài thời gian thẩm định được thông báo chính thức và người đề nghị thẩm định có thể xác định được nguyên nhân cũng như khoảng thời gian bổ sung.

Cơ quan thẩm định chỉ được gia hạn một lần. Đồng thời, thời gian gia hạn không được vượt quá thời gian thẩm định tương ứng với loại dự án được quy định. Như vậy, cơ chế gia hạn bị giới hạn bởi hai điều kiện đồng thời: chỉ một lần và thời gian gia hạn tối đa bằng thời gian thẩm định thông thường tương ứng.

Ví dụ về nguyên tắc xác định, nếu một dự án thuộc trường hợp có thời gian thẩm định tối đa 20 ngày làm việc thì thời gian gia hạn cũng không được vượt quá 20 ngày làm việc. Quy định này không có nghĩa mọi trường hợp gia hạn đều mặc nhiên được kéo dài thêm toàn bộ thời gian tối đa; cơ quan thẩm định phải xác định thời gian gia hạn cụ thể và nêu trong văn bản. Giới hạn tương ứng chỉ là mức tối đa không được vượt quá.

Sau khi xác định thời gian, vấn đề trung tâm tiếp theo là nội dung thẩm định. Cơ quan chuyên môn về xây dựng thực hiện thẩm định các nội dung theo khoản 4 Điều 27 Luật Xây dựng năm 2025, trong đó một số nội dung được cụ thể hóa để tạo cơ sở thống nhất cho quá trình xem xét Báo cáo nghiên cứu khả thi.

Một trong những nhóm nội dung quan trọng là đánh giá sự phù hợp của thiết kế xây dựng tại Báo cáo nghiên cứu khả thi với quy hoạch được sử dụng làm căn cứ lập dự án. Việc đánh giá không được thực hiện giống nhau đối với mọi loại dự án mà được xác định theo loại quy hoạch và đặc điểm của dự án.

Đối với dự án hạ tầng kỹ thuật khung, nội dung đánh giá tập trung vào sự phù hợp về định hướng và bố trí hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật được xác định trong quy hoạch sử dụng làm căn cứ lập dự án. Điều này có nghĩa thiết kế xây dựng phải được đối chiếu với định hướng tổ chức hệ thống hạ tầng đã được xác lập trong quy hoạch.

Việc kiểm tra ở đây không đơn thuần là xác nhận dự án có tên trong quy hoạch hay không. Cơ quan thẩm định phải xem xét giải pháp thiết kế có phù hợp với định hướng và cách thức bố trí hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật đã được quy hoạch hay không.

Đối với dự án sử dụng quy hoạch chi tiết đô thị và nông thôn làm căn cứ lập dự án, phạm vi đánh giá cụ thể hơn. Thiết kế xây dựng được xem xét về sự phù hợp với chức năng sử dụng đất, quy mô dân số nếu có, diện tích, các chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch và những yêu cầu về tổ chức không gian, kiến trúc cảnh quan được xác định trong hồ sơ quy hoạch.

Như vậy, quy hoạch chi tiết đóng vai trò như hệ thống thông số và yêu cầu để đối chiếu với thiết kế. Cơ quan thẩm định phải xem xét liệu thiết kế có sử dụng đất đúng chức năng, có phù hợp với diện tích và các chỉ tiêu quy hoạch, đồng thời có đáp ứng những yêu cầu về không gian và kiến trúc cảnh quan hay không.

Đối với dự án sử dụng quy hoạch chi tiết ngành, phương án tuyến công trình, vùng tuyến công trình hoặc vị trí công trình đã được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận làm căn cứ lập dự án, nội dung thẩm định lại được điều chỉnh phù hợp với đặc điểm của nhóm dự án này.

Cơ quan thẩm định đánh giá sự phù hợp về vị trí, hướng tuyến và vùng tuyến đối với công trình xây dựng theo tuyến, đồng thời xem xét các thông số kỹ thuật chủ yếu của thiết kế xây dựng so với thông tin trong quy hoạch chi tiết ngành hoặc thông tin tại phương án tuyến, vùng tuyến, vị trí công trình đã được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận.

Đối với công trình theo tuyến, hướng tuyến và vùng tuyến là những yếu tố trực tiếp quyết định cách thức công trình được bố trí trong không gian. Vì vậy, việc thiết kế thay đổi những yếu tố này so với căn cứ đã được chấp thuận là vấn đề cần được nhận diện trong quá trình thẩm định.

Một trường hợp có yêu cầu riêng là dự án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng. Đối với loại dự án này, cơ quan thẩm định đánh giá thiết kế xây dựng so với những nội dung đã được xác định trong Đề án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng và phương án quản lý rừng bền vững nếu có.

Các nội dung được đối chiếu bao gồm chỉ tiêu sử dụng mặt bằng xây dựng, vị trí, địa điểm, quy mô, vật liệu, chiều cao, mật độ, tỷ lệ dự kiến và thời gian tồn tại của các công trình, đồng thời xem xét định hướng đấu nối hệ thống hạ tầng kỹ thuật và giao thông.

Phạm vi đánh giá này phản ánh đặc thù của công trình được xây dựng trong môi trường rừng. Thiết kế không chỉ cần được xem xét về quy mô và vị trí mà còn phải đối chiếu với vật liệu, chiều cao, mật độ, tỷ lệ, thời gian tồn tại của công trình và phương án kết nối hạ tầng đã được xác định trong đề án.

Sau nội dung về quy hoạch, cơ quan thẩm định thực hiện kiểm tra danh mục các văn bản thỏa thuận hoặc hướng dẫn kết nối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật bên ngoài dự án. Nội dung này liên quan đến khả năng kết nối của dự án với các hệ thống hạ tầng cần thiết.

Việc kiểm tra danh mục giúp xác định những văn bản thỏa thuận hoặc hướng dẫn kết nối đã được tập hợp trong hồ sơ và tạo cơ sở để xem xét mối quan hệ giữa hệ thống hạ tầng bên trong dự án với hạ tầng kỹ thuật bên ngoài.

Một nhóm nội dung quan trọng khác là việc tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật và áp dụng tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật. Hoạt động này trước hết bao gồm việc xem xét danh mục quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn được áp dụng cho dự án.

Việc xác định danh mục có ý nghĩa nền tảng bởi đây là cơ sở để biết những quy chuẩn bắt buộc và tiêu chuẩn được lựa chọn sử dụng trong quá trình thiết kế. Sau khi xác định danh mục, cơ quan thẩm định kiểm tra việc tuân thủ của các giải pháp thiết kế trong hồ sơ xây dựng đối với những nội dung tương ứng được quy định tại quy chuẩn kỹ thuật có yêu cầu phải áp dụng.

Điểm cần chú ý là việc thẩm định không chỉ dừng ở việc hồ sơ có liệt kê quy chuẩn hay không. Các giải pháp thiết kế thực tế phải được kiểm tra so với nội dung tương ứng của quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc. Như vậy, danh mục là bước nhận diện căn cứ, còn giải pháp thiết kế mới là đối tượng được đối chiếu để đánh giá việc tuân thủ.

Tiếp theo là nhóm nội dung về các yếu tố bảo đảm an toàn xây dựng và giải pháp thiết kế phòng cháy, chữa cháy. Đối với an toàn xây dựng, cơ quan thẩm định kiểm tra tính đầy đủ của các nội dung thiết kế xây dựng theo Điều 20, Điều 21 hoặc Điều 22 của Nghị định tương ứng với bước thiết kế được áp dụng.

Những nội dung này do nhà thầu tư vấn thiết kế đề xuất và nhà thầu tư vấn thẩm tra xác nhận về việc bảo đảm an toàn xây dựng. Cơ quan thẩm định thực hiện kiểm tra tính đầy đủ của các nội dung thuộc phạm vi này.

Đối với phòng cháy và chữa cháy, trước hết phải kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ thiết kế xây dựng về việc thực hiện thiết kế phòng cháy, chữa cháy tương ứng với nội dung trong Báo cáo nghiên cứu khả thi theo pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.

Bên cạnh đó, cơ quan thẩm định kiểm tra việc đáp ứng các yêu cầu và nội dung tương ứng về phòng cháy, chữa cháy do nhà thầu tư vấn thiết kế đề xuất và nhà thầu tư vấn thẩm tra xác nhận bảo đảm yêu cầu theo pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.

Như vậy, nội dung về phòng cháy, chữa cháy được đặt trong mối quan hệ với cả Báo cáo nghiên cứu khả thi, hồ sơ thiết kế và trách nhiệm chuyên môn của nhà thầu tư vấn thiết kế, tư vấn thẩm tra. Việc kiểm tra nhằm bảo đảm những nội dung cần thiết về phòng cháy, chữa cháy đã được thể hiện và đáp ứng yêu cầu tương ứng.

Đối với tổng mức đầu tư, phạm vi thẩm định được xác định riêng cho dự án đầu tư công và dự án PPP. Nội dung thẩm định tổng mức đầu tư của các dự án này được thực hiện theo quy định của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng.

Điều này cho thấy thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi không chỉ giới hạn ở quy hoạch và thiết kế mà đối với dự án thuộc trường hợp tương ứng còn bao gồm nội dung về tổng mức đầu tư. Việc xác định và thẩm định tổng mức phải tuân theo hệ thống quy định chuyên biệt về quản lý chi phí đầu tư xây dựng.

Sau khi hoàn thành các nội dung thuộc phạm vi thẩm định, cơ quan chuyên môn hoặc Hội đồng thẩm định phải hình thành kết quả. Kết quả thẩm định không chỉ đưa ra một kết luận chung theo dạng chấp thuận hoặc không chấp thuận mà phải có đánh giá về mức độ đáp ứng yêu cầu đối với từng nội dung thẩm định.

Quy định này có ý nghĩa quan trọng đối với tính minh bạch của kết quả. Mỗi nội dung thuộc phạm vi thẩm định cần được đánh giá để cơ quan chuẩn bị dự án biết nội dung nào đã đáp ứng yêu cầu và nội dung nào còn phải xử lý.

Sau phần đánh giá từng nội dung, kết quả thẩm định phải đưa ra kết luận cho toàn bộ các nội dung được thẩm định. Đây là kết luận tổng hợp, hình thành trên cơ sở kết quả xem xét các nhóm vấn đề cụ thể.

Văn bản kết quả đồng thời phải xác định các yêu cầu đối với cơ quan chuẩn bị dự án, người quyết định đầu tư và cơ quan có thẩm quyền đối với dự án PPP. Như vậy, kết quả thẩm định không chỉ phản ánh việc đánh giá hồ sơ mà còn có thể xác định những nội dung các chủ thể có liên quan cần tiếp tục thực hiện.

Kết quả thẩm định được đồng thời gửi đến cơ quan quản lý xây dựng ở địa phương để biết và quản lý. Cơ chế này giúp cơ quan quản lý xây dựng tại địa phương có thông tin về kết quả thẩm định của dự án, kể cả khi việc thẩm định được thực hiện bởi cơ quan chuyên môn có thẩm quyền khác.

Về hình thức văn bản, Thông báo kết quả thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi của cơ quan chuyên môn về xây dựng được thực hiện theo Mẫu số 03 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định. Việc sử dụng mẫu thống nhất giúp chuẩn hóa cách thức thể hiện kết quả thẩm định.

Một nội dung đặc biệt đáng chú ý là cơ chế kế thừa kết quả thẩm định khi dự án có sự thay đổi về chủ thể hoặc cơ cấu tổ chức sau khi đã được thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi.

Theo đó, nếu dự án đã được cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi nhưng sau đó chủ đầu tư thực hiện chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất hoặc thực hiện chia tách, sáp nhập, hợp nhất thì kết quả thẩm định không mặc nhiên mất giá trị chỉ vì có sự thay đổi về chủ thể.

Tổ chức nhận chuyển nhượng, tổ chức nhận góp vốn hoặc tổ chức được hình thành sau quá trình chia tách, sáp nhập, hợp nhất được kế thừa kết quả thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi của cơ quan chuyên môn về xây dựng và không phải thực hiện lại thủ tục này.

Quy định về kế thừa kết quả giúp tránh việc lặp lại thủ tục thẩm định chỉ do dự án thay đổi chủ thể thực hiện hoặc có biến động về cơ cấu tổ chức. Kết quả thẩm định về dự án đã được hình thành trước đó được tiếp tục sử dụng bởi chủ thể kế thừa trong những trường hợp được quy định.

Tuy nhiên, cơ chế kế thừa này có ngoại lệ. Nếu dự án thuộc trường hợp điều chỉnh theo khoản 2 Điều 40 của Nghị định thì phải xử lý theo quy định về điều chỉnh dự án tương ứng. Vì vậy, khi phát sinh chuyển nhượng, góp vốn, chia tách, sáp nhập hoặc hợp nhất, cần đồng thời kiểm tra xem dự án có phát sinh trường hợp phải điều chỉnh theo quy định hay không.

Nếu chỉ có sự thay đổi về chủ thể thuộc các trường hợp được nêu mà không thuộc trường hợp phải thực hiện thủ tục do điều chỉnh dự án, kết quả thẩm định được kế thừa. Ngược lại, nếu sự thay đổi đồng thời dẫn đến trường hợp điều chỉnh thuộc khoản 2 Điều 40 thì không thể chỉ dựa vào nguyên tắc kế thừa để bỏ qua thủ tục tương ứng.

Nhìn tổng thể, có thể thấy cơ chế thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi được xây dựng theo ba tầng liên kết. Tầng thứ nhất là quản lý thời gian, nhằm bảo đảm hồ sơ được xử lý trong một giới hạn xác định theo quy mô dự án và cấp công trình. Tầng thứ hai là quản lý nội dung, nhằm bảo đảm các vấn đề về quy hoạch, kết nối hạ tầng, quy chuẩn, tiêu chuẩn, an toàn xây dựng, phòng cháy chữa cháy và tổng mức đầu tư trong trường hợp tương ứng được xem xét. Tầng thứ ba là quản lý kết quả, trong đó từng nội dung phải được đánh giá, toàn bộ hồ sơ phải có kết luận và các yêu cầu tiếp theo phải được xác định rõ.

Trong thực tế chuẩn bị dự án, ba tầng này cần được quan tâm ngay từ trước khi hồ sơ được nộp. Cơ quan chuẩn bị dự án không nên chỉ theo dõi thời hạn xử lý sau khi đã trình hồ sơ mà cần tổ chức Báo cáo nghiên cứu khả thi theo chính các nhóm nội dung sẽ được thẩm định.

Đối với quy hoạch, cần xác định loại quy hoạch nào được sử dụng làm căn cứ lập dự án và thiết kế phải được đối chiếu theo tiêu chí tương ứng. Đối với dự án hạ tầng kỹ thuật khung, trọng tâm là định hướng và bố trí hệ thống hạ tầng. Đối với dự án sử dụng quy hoạch chi tiết đô thị và nông thôn, cần chú ý chức năng đất, quy mô dân số nếu có, diện tích, chỉ tiêu sử dụng đất và tổ chức không gian, kiến trúc cảnh quan. Đối với công trình theo tuyến, vị trí, hướng tuyến, vùng tuyến và thông số kỹ thuật chủ yếu cần thống nhất với cơ sở đã được chấp thuận.

Đối với quy chuẩn và tiêu chuẩn, cần chuẩn bị danh mục rõ ràng và bảo đảm các giải pháp thiết kế đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc tương ứng. Đối với an toàn xây dựng và phòng cháy, chữa cháy, hồ sơ thiết kế cần thể hiện đầy đủ các nội dung theo bước thiết kế và yêu cầu pháp luật liên quan. Đối với dự án đầu tư công và PPP, hồ sơ về tổng mức đầu tư phải đáp ứng quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng.

Nếu những vấn đề này được xử lý đầy đủ ngay trong quá trình lập Báo cáo nghiên cứu khả thi, hồ sơ khi trình thẩm định sẽ có tính thống nhất cao hơn và tạo điều kiện thuận lợi để cơ quan thẩm định xem xét trong thời gian quy định.

Cũng cần phân biệt rõ thời gian thẩm định với toàn bộ thời gian thực tế từ khi bắt đầu chuẩn bị hồ sơ đến khi dự án có kết quả. Thời gian thẩm định được quy định bắt đầu từ ngày cơ quan thẩm định nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Do đó, khoảng thời gian cơ quan chuẩn bị dự án hoàn thiện hồ sơ trước khi đủ điều kiện hoặc xử lý những yêu cầu khác không nên được nhầm lẫn với thời hạn thẩm định chính thức.

Tương tự, cơ chế gia hạn không phải là việc tự động cộng thêm một khoảng thời gian tương đương với thời hạn ban đầu. Chỉ khi cần gia hạn, cơ quan thẩm định mới thực hiện và phải có văn bản nêu rõ lý do, thời gian gia hạn. Việc gia hạn chỉ được thực hiện một lần và không được vượt quá thời gian thẩm định tương ứng.

Nếu hệ thống hóa các mốc thời gian, có thể ghi nhớ theo trình tự từ lớn đến nhỏ: dự án quan trọng quốc gia tối đa 60 ngày; dự án nhóm A có công trình cấp I trở lên tối đa 25 ngày làm việc và nhóm A còn lại 20 ngày làm việc; dự án nhóm B có công trình cấp I trở lên 20 ngày làm việc và nhóm B còn lại 16 ngày làm việc; dự án nhóm C có công trình cấp I trở lên 15 ngày làm việc và nhóm C còn lại 12 ngày làm việc. Trong trường hợp gia hạn, chỉ được gia hạn một lần và khoảng thời gian gia hạn không vượt quá thời gian tương ứng của chính dự án đó.

Nhìn từ góc độ kết quả, mục tiêu cuối cùng của toàn bộ quá trình không chỉ là hoàn thành đúng thời hạn mà phải hình thành một kết quả thẩm định đủ rõ để sử dụng cho các bước tiếp theo của dự án. Vì vậy, kết quả phải đánh giá mức độ đáp ứng của từng nội dung, đưa ra kết luận tổng thể và xác định các yêu cầu đối với những chủ thể có liên quan.

Cơ chế gửi đồng thời kết quả cho cơ quan quản lý xây dựng tại địa phương còn giúp duy trì sự kết nối thông tin giữa cơ quan thực hiện thẩm định và cơ quan quản lý trên địa bàn. Trong khi đó, quy định về kế thừa kết quả khi chuyển nhượng, góp vốn, chia tách, sáp nhập hoặc hợp nhất góp phần bảo đảm tính liên tục của quá trình chuẩn bị dự án, với điều kiện không phát sinh trường hợp điều chỉnh phải thực hiện theo quy định riêng.

Tóm lại, thời gian, nội dung và kết quả thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi tạo thành một cơ chế thống nhất nhằm xác định cơ quan thẩm định phải hoàn thành công việc trong bao lâu, phải xem xét những vấn đề nào và phải thể hiện kết quả ra sao. Thời gian được tính từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và được phân theo dự án quan trọng quốc gia, nhóm A, B, C cũng như cấp công trình. Việc gia hạn chỉ được thực hiện một lần, phải có văn bản nêu rõ lý do, thời gian và không được vượt quá thời gian thẩm định tương ứng. Trong quá trình thẩm định, cơ quan chuyên môn xem xét sự phù hợp của thiết kế với quy hoạch theo từng loại dự án; kiểm tra danh mục văn bản về kết nối hạ tầng; xem xét danh mục quy chuẩn, tiêu chuẩn và việc tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc; kiểm tra các yếu tố về an toàn xây dựng và phòng cháy, chữa cháy; đồng thời thẩm định tổng mức đầu tư của dự án đầu tư công, dự án PPP theo quy định về quản lý chi phí. Kết quả phải đánh giá mức độ đáp ứng của từng nội dung, kết luận toàn bộ nội dung thẩm định, xác định các yêu cầu đối với những chủ thể liên quan và được gửi cho cơ quan quản lý xây dựng ở địa phương. Trường hợp dự án thay đổi chủ thể thông qua chuyển nhượng, góp vốn, chia tách, sáp nhập hoặc hợp nhất, kết quả thẩm định có thể được kế thừa mà không phải thực hiện lại thủ tục, trừ trường hợp phát sinh điều chỉnh dự án thuộc quy định riêng. Qua đó, quy định về thời gian và nội dung thẩm định vừa tạo giới hạn về tiến độ xử lý hồ sơ, vừa xác lập phạm vi kiểm soát chuyên môn và bảo đảm kết quả thẩm định có thể tiếp tục được sử dụng trong quá trình quyết định, phê duyệt và triển khai dự án.

 

CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ & THIẾT KẾ XÂY DỰNG MINH PHƯƠNG

Địa chỉ: Số 28B Mai Thị Lựu, Phường Đa Kao, Q.1, TPHCM

Hotline:  0903649782 - (028) 3514 6426

Email: nguyenthanhmp156@gmail.com

 


Tin tức liên quan

Quy trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng
Quy trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng

78 Lượt xem

Quy trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng

Hướng dẫn lập dự án đầu tư xây dựng theo quy định mới
Hướng dẫn lập dự án đầu tư xây dựng theo quy định mới

70 Lượt xem

Hướng dẫn lập dự án đầu tư xây dựng theo quy định mới

Giấy phép xây dựng cho toàn bộ công trình thuộc dự án
Giấy phép xây dựng cho toàn bộ công trình thuộc dự án

129 Lượt xem

Xin giấy phép cho toàn bộ công trình thuộc dự án

Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới
Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới

116 Lượt xem

Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới

Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng
Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng

108 Lượt xem

Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng

Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng
Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng

97 Lượt xem

Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng


Bình luận
  • Đánh giá của bạn
Đã thêm vào giỏ hàng