Điều chỉnh dự án đầu tư xây dựng
Điều chỉnh dự án đầu tư xây dựng là một nội dung quan trọng trong quá trình quản lý
Điều chỉnh dự án đầu tư xây dựng là một nội dung quan trọng trong quá trình quản lý và thực hiện dự án, bởi từ thời điểm dự án được phê duyệt đến khi hoàn thành có thể phát sinh những thay đổi về quy hoạch, mục tiêu, quy mô đầu tư, giải pháp thiết kế, tổng mức đầu tư hoặc những điều kiện khác có ảnh hưởng đến nội dung đã được quyết định trước đó. Tuy nhiên, không phải mọi thay đổi phát sinh trong quá trình thực hiện đều dẫn đến việc phải tổ chức thẩm định lại toàn bộ Báo cáo nghiên cứu khả thi. Quy định về điều chỉnh dự án được xây dựng theo hướng phân loại mức độ và tính chất của thay đổi, từ đó xác định trường hợp nào thuộc thẩm quyền quyết định của người quyết định đầu tư, trường hợp nào phải trình cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh và trường hợp nào chủ đầu tư có thể tự tổ chức thẩm định, phê duyệt nội dung điều chỉnh theo phạm vi được giao.
Về nguyên tắc chung, trong quá trình thực hiện, dự án đầu tư xây dựng được điều chỉnh theo quy định tại Điều 28 Luật Xây dựng năm 2025. Đây là cơ sở pháp lý chung để xác định điều kiện, trường hợp và nguyên tắc điều chỉnh dự án. Việc điều chỉnh vì vậy không đơn thuần là thay đổi một nội dung trong hồ sơ theo nhu cầu thực tế mà phải được đặt trong khuôn khổ các trường hợp và điều kiện pháp luật cho phép.
Đối với dự án đầu tư công và dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư, ngoài việc tuân thủ pháp luật về xây dựng, quá trình điều chỉnh còn phải thực hiện theo pháp luật về đầu tư công hoặc pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư tương ứng. Điều này xuất phát từ đặc điểm của hai nhóm dự án này: việc điều chỉnh không chỉ tác động đến giải pháp xây dựng mà còn có thể liên quan đến quyết định đầu tư, nguồn vốn, tổng mức đầu tư, cơ chế thực hiện hoặc những nội dung được điều chỉnh bởi pháp luật chuyên ngành.
Do đó, khi xem xét một dự án có được điều chỉnh hay không, bước đầu tiên là xác định loại dự án và hệ thống pháp luật điều chỉnh. Đối với dự án thông thường, trọng tâm là các điều kiện theo pháp luật về xây dựng và pháp luật có liên quan. Đối với dự án đầu tư công, phải đồng thời rà soát các yêu cầu của pháp luật về đầu tư công. Đối với dự án PPP, phải đặt việc điều chỉnh trong mối quan hệ với pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư.
Một vấn đề đặc biệt quan trọng là cần phân biệt giữa việc “điều chỉnh dự án” và việc “phải thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh tại cơ quan chuyên môn về xây dựng”. Một dự án có thể phát sinh điều chỉnh trong quá trình thực hiện, nhưng không phải mọi trường hợp điều chỉnh đều bắt buộc phải đưa Báo cáo nghiên cứu khả thi trở lại cơ quan chuyên môn về xây dựng để thẩm định.
Theo quy định, đối với dự án thực hiện điều chỉnh, cơ quan chuyên môn về xây dựng chỉ thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh trong những trường hợp được xác định cụ thể. Cách quy định này tạo ra một giới hạn rõ đối với phạm vi phải thẩm định lại, tập trung vào những thay đổi có ảnh hưởng đáng kể đến cơ sở quy hoạch, mục tiêu và quy mô đầu tư, giải pháp thiết kế chủ yếu hoặc tổng mức đầu tư đối với dự án đầu tư công và dự án PPP.
Trường hợp thứ nhất phải thực hiện thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh là khi việc điều chỉnh quy hoạch làm thay đổi các chỉ tiêu, thông số quy hoạch trong phạm vi khu đất thực hiện dự án.
Quy hoạch là một trong những căn cứ quan trọng để lập và thẩm định dự án. Thiết kế xây dựng tại Báo cáo nghiên cứu khả thi được đánh giá về sự phù hợp với quy hoạch được sử dụng làm căn cứ lập dự án. Vì vậy, khi quy hoạch được điều chỉnh và sự điều chỉnh đó làm thay đổi các chỉ tiêu hoặc thông số quy hoạch trong chính phạm vi khu đất của dự án thì cơ sở đã được sử dụng cho việc thẩm định trước đây đã có sự thay đổi.
Trong trường hợp này, việc thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh giúp cơ quan chuyên môn xem xét lại những nội dung chịu tác động từ quy hoạch mới. Điểm cần chú ý là quy định gắn yêu cầu thẩm định với việc thay đổi chỉ tiêu, thông số quy hoạch trong phạm vi khu đất thực hiện dự án. Do đó, không nên hiểu rằng mọi sự điều chỉnh của một đồ án quy hoạch có liên quan đều tự động làm phát sinh yêu cầu thẩm định lại dự án. Cần xem xét sự điều chỉnh đó có thực sự làm thay đổi các chỉ tiêu, thông số áp dụng đối với khu đất dự án hay không.
Trường hợp thứ hai là khi thay đổi mục tiêu hoặc quy mô đầu tư xây dựng đã được xác định tại Quyết định phê duyệt dự án. Mục tiêu và quy mô là những nội dung cốt lõi của quyết định đầu tư. Mục tiêu trả lời câu hỏi dự án được đầu tư để đạt được kết quả gì, trong khi quy mô xác định phạm vi và mức độ đầu tư được chấp thuận.
Khi một trong hai yếu tố này thay đổi, dự án thực tế có thể không còn hoàn toàn tương ứng với dự án đã được thẩm định và phê duyệt trước đó. Vì vậy, đây là trường hợp thuộc diện cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh.
Tuy nhiên, quy định đồng thời xác định ngoại lệ. Trường hợp chỉ chuẩn xác lại số liệu tính toán hoặc cắt giảm hạng mục, công trình xây dựng độc lập đã được người quyết định đầu tư chấp thuận thì không thuộc trường hợp phải thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh theo căn cứ thay đổi mục tiêu, quy mô này.
Ngoại lệ trên có ý nghĩa quan trọng trong thực tế. Không phải mọi thay đổi số liệu đều đồng nghĩa với thay đổi bản chất quy mô đầu tư. Việc chuẩn xác lại số liệu tính toán có thể nhằm làm cho thông tin chính xác hơn mà không thay đổi mục tiêu hoặc phạm vi đầu tư về bản chất. Tương tự, việc cắt giảm hạng mục hoặc công trình xây dựng độc lập, khi đã được người quyết định đầu tư chấp thuận, được loại trừ khỏi trường hợp phải thẩm định lại theo nội dung này.
Do đó, khi dự án thay đổi quy mô cần xác định rõ bản chất của thay đổi. Nếu đó là sự thay đổi thực sự đối với quy mô đã được phê duyệt thì thuộc trường hợp phải thẩm định điều chỉnh. Nếu chỉ là chuẩn xác số liệu hoặc cắt giảm hạng mục, công trình độc lập theo điều kiện được quy định thì cần áp dụng ngoại lệ tương ứng.
Trường hợp thứ ba liên quan trực tiếp đến thiết kế xây dựng trong Báo cáo nghiên cứu khả thi. Cơ quan chuyên môn về xây dựng phải thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh khi thiết kế có thay đổi một trong những nội dung quan trọng được liệt kê.
Nội dung đầu tiên là giải pháp kiến trúc liên quan đến các phân khu chức năng sử dụng chính bên trong công trình. Đây không phải mọi thay đổi nhỏ về kiến trúc, mà trọng tâm là thay đổi giải pháp kiến trúc có liên quan đến cách tổ chức các phân khu chức năng sử dụng chính.
Việc phân chia chức năng bên trong công trình có quan hệ với mục đích sử dụng, tổ chức không gian và các giải pháp kỹ thuật liên quan. Vì vậy, khi sự thay đổi tác động đến các phân khu chức năng chính thì thiết kế đã có sự biến đổi ở mức cần được xem xét lại trong Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh.
Nội dung thứ hai là thay đổi giải pháp kết cấu chính. Kết cấu chính có vai trò trực tiếp đối với việc hình thành và bảo đảm khả năng làm việc của công trình. Nếu giải pháp kết cấu chính thay đổi so với phương án đã được thẩm định thì cơ sở kỹ thuật quan trọng của thiết kế cũng thay đổi, dẫn đến yêu cầu thẩm định điều chỉnh.
Nội dung thứ ba áp dụng đối với dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, đó là thay đổi sơ đồ nguyên lý của hệ thống kỹ thuật. Sơ đồ nguyên lý thể hiện cách thức tổ chức và vận hành cơ bản của hệ thống. Việc thay đổi sơ đồ này có thể tác động đến toàn bộ giải pháp kỹ thuật của dự án, do đó thuộc trường hợp cần thẩm định lại phần điều chỉnh.
Có thể thấy quy định không yêu cầu cơ quan chuyên môn thẩm định lại đối với mọi thay đổi của thiết kế. Chỉ những thay đổi thuộc các nhóm nội dung được xác định, gồm giải pháp kiến trúc liên quan đến phân khu chức năng chính, giải pháp kết cấu chính hoặc sơ đồ nguyên lý hệ thống kỹ thuật đối với dự án hạ tầng kỹ thuật, mới làm phát sinh yêu cầu theo căn cứ này.
Trường hợp thứ tư được quy định riêng đối với dự án đầu tư công và dự án PPP. Khi việc điều chỉnh làm tăng tổng mức đầu tư của dự án thì Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh thuộc trường hợp phải được cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định.
Tổng mức đầu tư là một trong những nội dung quan trọng của quyết định đầu tư và có ý nghĩa đặc biệt đối với dự án sử dụng vốn đầu tư công cũng như dự án PPP. Việc tăng tổng mức có thể ảnh hưởng đến nguồn lực và cơ sở tài chính đã được xác định, do đó cần được kiểm soát trong quá trình điều chỉnh.
Tuy nhiên, quy định tiếp tục đặt ra ngoại lệ đối với trường hợp tăng tổng mức đầu tư do thay đổi chi phí đền bù, hỗ trợ, tái định cư hoặc do chỉ số giá xây dựng theo điểm đ khoản 2 Điều 28 Luật Xây dựng năm 2025. Nếu việc tăng tổng mức chỉ xuất phát từ những nguyên nhân này thì không thuộc trường hợp phải thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh theo căn cứ tăng tổng mức đầu tư được nêu tại đây.
Như vậy, đối với dự án đầu tư công hoặc PPP có tăng tổng mức, không nên chỉ nhìn vào kết quả cuối cùng là tổng mức tăng. Cần xác định nguyên nhân làm tăng. Nếu tăng do những thay đổi khác thuộc phạm vi quy định thì phải thực hiện thẩm định điều chỉnh; nếu chỉ tăng do chi phí đền bù, hỗ trợ, tái định cư hoặc chỉ số giá xây dựng thuộc trường hợp ngoại lệ thì áp dụng cơ chế tương ứng.
Sau khi xác định dự án thuộc trường hợp phải thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh, bước tiếp theo là chuẩn bị hồ sơ. Hồ sơ trình cơ quan chuyên môn về xây dựng được thực hiện theo quy định về hồ sơ trình thẩm định tại Điều 35 của Nghị định, đồng thời phải bổ sung và làm rõ những thông tin đặc thù của việc điều chỉnh.
Nội dung đầu tiên phải làm rõ là lý do và mục tiêu điều chỉnh dự án. Đây là phần rất quan trọng bởi cơ quan thẩm định cần biết tại sao dự án đã được phê duyệt lại phải thay đổi và kết quả mà việc điều chỉnh hướng tới là gì.
Lý do điều chỉnh cần được đặt trong mối quan hệ với nội dung thay đổi. Nếu điều chỉnh do quy hoạch thay đổi thì hồ sơ phải thể hiện được sự thay đổi của cơ sở quy hoạch. Nếu thay đổi quy mô, thiết kế hoặc tổng mức đầu tư thì phải làm rõ nguyên nhân dẫn đến nhu cầu điều chỉnh tương ứng.
Đối với dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn đầu tư công và dự án PPP, hồ sơ còn phải làm rõ việc đáp ứng các điều kiện điều chỉnh dự án theo pháp luật có liên quan. Điều này thể hiện nguyên tắc điều chỉnh phải đồng thời tuân thủ pháp luật về xây dựng và hệ thống pháp luật chuyên ngành tương ứng.
Một thành phần đặc biệt quan trọng khác là Báo cáo của chủ đầu tư hoặc cơ quan chuẩn bị dự án về quá trình thực hiện dự án và tình hình thực tế thi công các công trình xây dựng đến thời điểm đề xuất điều chỉnh.
Tài liệu này giúp cơ quan thẩm định xác định dự án đang ở giai đoạn nào và phần nào đã được triển khai trên thực tế. Một dự án chưa khởi công có điều kiện điều chỉnh khác về mặt thực tế so với dự án đã thi công một phần đáng kể. Vì vậy, việc thẩm định điều chỉnh không thể chỉ dựa trên hồ sơ dự kiến sau điều chỉnh mà còn phải có thông tin về trạng thái hiện hữu.
Báo cáo quá trình thực hiện tạo cầu nối giữa hồ sơ đã được phê duyệt, tình hình thực hiện thực tế và phương án đề xuất điều chỉnh. Đây là cơ sở để cơ quan thẩm định hiểu đầy đủ bối cảnh của sự thay đổi và phạm vi tác động của nội dung điều chỉnh.
Một nguyên tắc quan trọng khác là cơ quan chuyên môn về xây dựng thực hiện thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh đối với các nội dung điều chỉnh theo Tờ trình thẩm định. Quy định này xác định rõ phạm vi của hoạt động thẩm định điều chỉnh.
Điều đó có nghĩa việc dự án phải điều chỉnh không mặc nhiên dẫn đến thẩm định lại toàn bộ những nội dung trước đây đã được xem xét. Phạm vi thẩm định tập trung vào các nội dung điều chỉnh được xác định trong Tờ trình.
Do đó, việc lập Tờ trình thẩm định điều chỉnh có ý nghĩa rất quan trọng. Cơ quan chuẩn bị dự án cần xác định rõ phần nào được đề nghị điều chỉnh, nội dung trước điều chỉnh và nội dung sau điều chỉnh, nguyên nhân cũng như mối quan hệ của phần thay đổi với các nội dung khác của dự án.
Sau khi hoàn thành thẩm định, việc phê duyệt dự án điều chỉnh được thực hiện theo quy định về phê duyệt dự án tại Điều 39 của Nghị định. Tùy theo phạm vi và tính chất điều chỉnh, việc phê duyệt có thể áp dụng đối với nội dung điều chỉnh hoặc đối với toàn bộ dự án.
Chủ thể xem xét, quyết định là người quyết định đầu tư hoặc cơ quan có thẩm quyền đối với dự án PPP. Quy định này tiếp tục duy trì nguyên tắc chủ thể có thẩm quyền quyết định dự án chịu trách nhiệm xem xét việc điều chỉnh theo phạm vi pháp luật quy định.
Cần phân biệt phạm vi thẩm định và phạm vi văn bản phê duyệt điều chỉnh. Cơ quan chuyên môn thẩm định các nội dung điều chỉnh theo Tờ trình; còn người quyết định đầu tư hoặc cơ quan có thẩm quyền xem xét việc phê duyệt nội dung điều chỉnh hoặc toàn bộ dự án tùy trường hợp.
Đối với dự án được chia thành các dự án thành phần, việc điều chỉnh dự án thành phần được thực hiện theo nguyên tắc điều chỉnh dự án đối với những nội dung tương ứng của chính dự án thành phần đó.
Điều này phù hợp với nguyên tắc dự án thành phần được xác định và quản lý theo phạm vi riêng trong cấu trúc tổng thể. Khi một dự án thành phần phát sinh nhu cầu điều chỉnh, cần xem xét những nội dung của dự án thành phần chịu tác động thay vì mặc nhiên coi toàn bộ dự án tổng thể đều phải điều chỉnh theo cùng phạm vi.
Riêng việc điều chỉnh tổng mức đầu tư của dự án thành phần được thực hiện theo quy định của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Đây là cơ chế dẫn chiếu sang hệ thống quy định chuyên ngành về chi phí để bảo đảm việc điều chỉnh tổng mức được xử lý đúng phương pháp và thẩm quyền tương ứng.
Một nhóm quy định có ý nghĩa thực tế rất lớn là điều chỉnh dự án chỉ cần lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật. Do đặc điểm của loại dự án này, cơ chế điều chỉnh được thiết kế riêng và người quyết định đầu tư là chủ thể xem xét, quyết định việc điều chỉnh.
Trường hợp đầu tiên cần đặc biệt chú ý là khi điều chỉnh làm tăng tổng mức đầu tư xây dựng vượt quá 10% mức quy định đối với dự án chỉ cần lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật theo điểm b, c và đ khoản 2 Điều 27 của Nghị định.
Khi vượt ngưỡng này, dự án không còn được xử lý đơn thuần bằng việc điều chỉnh Báo cáo kinh tế - kỹ thuật theo cơ chế thông thường mà phải lập Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh.
Sau khi lập Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh, việc thẩm định được thực hiện theo các quy định về trường hợp phải thẩm định, hồ sơ trình thẩm định và phạm vi thẩm định, phê duyệt điều chỉnh tương ứng.
Quy định này tạo ra một ngưỡng chuyển đổi quan trọng. Dự án ban đầu chỉ cần lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật, nhưng nếu việc điều chỉnh làm tăng tổng mức đầu tư vượt quá 10% mức quy định đối với các trường hợp được viện dẫn thì yêu cầu về hồ sơ được nâng lên thành Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh.
Tuy nhiên, pháp luật cũng xử lý một tình huống nhằm tránh lập lại hồ sơ kỹ thuật không cần thiết. Nếu dự án chỉ điều chỉnh tổng mức đầu tư xây dựng mà không điều chỉnh thiết kế bản vẽ thi công thì được sử dụng thiết kế bản vẽ thi công đã có trong Báo cáo kinh tế - kỹ thuật để thay thế cho thiết kế xây dựng tại Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh.
Quy định này có ý nghĩa thực tế rõ rệt. Lý do phải chuyển sang lập Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh trong trường hợp này xuất phát từ mức tăng tổng mức đầu tư, không phải do giải pháp thiết kế thay đổi. Nếu thiết kế bản vẽ thi công vẫn giữ nguyên thì việc yêu cầu lập lại một bộ thiết kế khác chỉ để đáp ứng hình thức của Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh sẽ không cần thiết.
Do đó, thiết kế bản vẽ thi công đã được lập trong Báo cáo kinh tế - kỹ thuật được phép sử dụng thay thế cho phần thiết kế xây dựng trong Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh. Điều này vừa bảo đảm yêu cầu về hồ sơ điều chỉnh vừa tránh lặp lại công việc thiết kế khi nội dung kỹ thuật không thay đổi.
Trường hợp thứ hai đối với dự án chỉ cần lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật là khi chỉ điều chỉnh hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công và nội dung điều chỉnh không thuộc trường hợp phải lập Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh do tăng tổng mức đầu tư nêu trên, đồng thời không thuộc các trường hợp phải thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh tại cơ quan chuyên môn về xây dựng.
Trong trường hợp này, chủ đầu tư tự thực hiện việc thẩm định và phê duyệt các nội dung điều chỉnh. Sau khi hoàn thành, chủ đầu tư phải báo cáo kết quả thực hiện với người quyết định đầu tư.
Cơ chế này thể hiện sự phân cấp tương đối rõ. Những thay đổi lớn hoặc thuộc nhóm nội dung cần kiểm soát bởi cơ quan chuyên môn thì thực hiện theo quy trình thẩm định điều chỉnh. Những thay đổi thiết kế bản vẽ thi công không rơi vào các trường hợp đó được giao cho chủ đầu tư xem xét, thẩm định và phê duyệt, nhưng vẫn phải báo cáo người quyết định đầu tư.
Nếu hệ thống hóa toàn bộ quy định, quá trình xử lý một đề xuất điều chỉnh dự án có thể được thực hiện theo một chuỗi nhận diện logic. Trước hết cần xác định dự án có đủ điều kiện điều chỉnh theo Điều 28 Luật Xây dựng năm 2025 và pháp luật chuyên ngành liên quan hay không.
Sau đó cần xác định sự thay đổi có thuộc một trong các trường hợp phải trình cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh hay không. Bốn nhóm chính cần kiểm tra gồm: thay đổi chỉ tiêu, thông số quy hoạch trong khu đất do điều chỉnh quy hoạch; thay đổi mục tiêu hoặc quy mô đầu tư; thay đổi những giải pháp thiết kế chủ yếu được liệt kê; và đối với dự án đầu tư công, PPP là việc tăng tổng mức đầu tư không thuộc các trường hợp ngoại lệ.
Nếu thuộc một trong các trường hợp đó, hồ sơ được chuẩn bị theo quy định về hồ sơ thẩm định và phải làm rõ lý do, mục tiêu điều chỉnh, điều kiện pháp lý liên quan cũng như tình hình thực tế triển khai dự án.
Cơ quan chuyên môn sau đó thẩm định các nội dung điều chỉnh theo Tờ trình. Trên cơ sở kết quả thẩm định, người quyết định đầu tư hoặc cơ quan có thẩm quyền đối với dự án PPP xem xét phê duyệt nội dung điều chỉnh hoặc toàn bộ dự án.
Nếu dự án được tổ chức thành các dự án thành phần thì việc nhận diện và điều chỉnh được thực hiện tương ứng với từng dự án thành phần. Nếu là dự án chỉ cần lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật thì phải kiểm tra thêm ngưỡng tăng tổng mức đầu tư và tính chất của việc điều chỉnh thiết kế để xác định cơ chế xử lý phù hợp.
Cách tiếp cận này giúp tránh hai xu hướng không phù hợp. Một mặt, không nên cho rằng mọi thay đổi đều có thể được chủ đầu tư tự xử lý mà không cần xem xét điều kiện pháp lý. Mặt khác, cũng không nên mặc nhiên đưa mọi điều chỉnh nhỏ trở lại cơ quan chuyên môn để thẩm định lại toàn bộ Báo cáo nghiên cứu khả thi.
Tinh thần của quy định là phân loại thay đổi theo mức độ tác động. Những thay đổi ảnh hưởng đến cơ sở quy hoạch, mục tiêu, quy mô, giải pháp thiết kế chủ yếu hoặc tổng mức đầu tư trong các trường hợp được xác định phải được kiểm soát thông qua cơ chế thẩm định điều chỉnh. Những nội dung ngoài phạm vi đó được xử lý theo thẩm quyền tương ứng của người quyết định đầu tư hoặc chủ đầu tư.
Đặc biệt, việc cơ quan chuyên môn chỉ thẩm định nội dung điều chỉnh theo Tờ trình giúp hạn chế việc lặp lại toàn bộ quá trình thẩm định đối với những nội dung của dự án không thay đổi. Đây là nguyên tắc quan trọng về phạm vi thẩm định và cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với chất lượng của Tờ trình điều chỉnh.
Tờ trình cần mô tả chính xác những nội dung thay đổi để cơ quan thẩm định xác định phạm vi công việc. Báo cáo của chủ đầu tư hoặc cơ quan chuẩn bị dự án phải phản ánh trung thực quá trình triển khai và hiện trạng thi công để cơ quan thẩm định đánh giá đề xuất điều chỉnh trong bối cảnh thực tế.
Nhìn tổng thể, điều chỉnh dự án đầu tư xây dựng là cơ chế cho phép dự án thích ứng với những thay đổi phát sinh trong quá trình thực hiện nhưng vẫn duy trì sự kiểm soát đối với những nội dung đã được phê duyệt. Việc điều chỉnh không làm mất đi giá trị của quyết định đầu tư ban đầu mà tạo ra một quá trình cập nhật có kiểm soát đối với những nội dung cần thay đổi.
Tóm lại, dự án đầu tư xây dựng trong quá trình thực hiện được điều chỉnh theo Điều 28 Luật Xây dựng năm 2025 và, đối với dự án đầu tư công hoặc PPP, phải đồng thời tuân thủ pháp luật chuyên ngành tương ứng. Cơ quan chuyên môn về xây dựng chỉ thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh khi việc điều chỉnh quy hoạch làm thay đổi chỉ tiêu, thông số quy hoạch trong khu đất dự án; thay đổi mục tiêu hoặc quy mô đầu tư đã được phê duyệt, trừ các ngoại lệ được quy định; thay đổi giải pháp kiến trúc liên quan đến phân khu chức năng chính, giải pháp kết cấu chính hoặc sơ đồ nguyên lý hệ thống kỹ thuật đối với dự án hạ tầng kỹ thuật; hoặc đối với dự án đầu tư công và PPP, việc điều chỉnh làm tăng tổng mức đầu tư ngoài các trường hợp ngoại lệ về chi phí đền bù, hỗ trợ, tái định cư và chỉ số giá xây dựng. Hồ sơ thẩm định điều chỉnh phải làm rõ lý do, mục tiêu, điều kiện điều chỉnh và tình hình thực tế thực hiện dự án. Cơ quan chuyên môn chỉ thẩm định những nội dung điều chỉnh theo Tờ trình, còn người quyết định đầu tư hoặc cơ quan có thẩm quyền đối với dự án PPP xem xét phê duyệt nội dung điều chỉnh hoặc toàn bộ dự án. Đối với dự án thành phần, việc điều chỉnh được thực hiện tương ứng với phạm vi của dự án thành phần. Đối với dự án chỉ lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật, nếu việc điều chỉnh làm tăng tổng mức đầu tư vượt quá 10% mức quy định đối với các trường hợp được xác định thì phải lập Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh; nếu chỉ thay đổi tổng mức mà không thay đổi thiết kế bản vẽ thi công thì được sử dụng thiết kế đã có trong Báo cáo kinh tế - kỹ thuật. Trường hợp chỉ điều chỉnh thiết kế bản vẽ thi công và không thuộc các trường hợp phải thực hiện thủ tục thẩm định điều chỉnh nêu trên, chủ đầu tư thực hiện thẩm định, phê duyệt và báo cáo kết quả với người quyết định đầu tư. Qua đó, cơ chế điều chỉnh dự án vừa tạo tính linh hoạt cần thiết trong quá trình triển khai, vừa bảo đảm những thay đổi có ảnh hưởng đáng kể đến cơ sở pháp lý, quy hoạch, quy mô, thiết kế và nguồn lực đầu tư vẫn được kiểm soát theo đúng thẩm quyền.

CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ & THIẾT KẾ XÂY DỰNG MINH PHƯƠNG
Địa chỉ: Số 28B Mai Thị Lựu, Phường Đa Kao, Q.1, TPHCM
Hotline: 0903649782 - (028) 3514 6426
Email: nguyenthanhmp156@gmail.com
Xem thêm