Điều kiện đối với cơ quan

Các điều kiện đối với cơ quan, tổ chức được giao làm chủ đầu tư

Các điều kiện đối với cơ quan, tổ chức được giao làm chủ đầu tư

Giao chủ đầu tư là một nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình tổ chức thực hiện dự án đầu tư xây dựng, bởi chủ đầu tư là chủ thể trực tiếp tham gia tổ chức, quản lý và thực hiện nhiều công việc xuyên suốt dự án. Việc xác định đúng cơ quan, tổ chức được giao làm chủ đầu tư vì vậy không chỉ mang ý nghĩa xác định một đầu mối hành chính mà còn nhằm bảo đảm dự án có một chủ thể đủ điều kiện để thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến quản lý vốn, quản lý dự án và tổ chức các hoạt động xây dựng. Theo quy định, cơ quan hoặc tổ chức được người quyết định đầu tư giao làm chủ đầu tư trước hoặc tại thời điểm quyết định đầu tư. Đối với dự án đầu tư công, nguyên tắc được đặt ra là ưu tiên giao Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng trực thuộc làm chủ đầu tư. Chỉ khi không có Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng trực thuộc hoặc tuy có Ban quản lý dự án nhưng tại thời điểm giao chủ đầu tư Ban này không có đủ khả năng thực hiện thì người quyết định đầu tư mới giao cơ quan, tổ chức khác làm chủ đầu tư khi đáp ứng một trong những điều kiện được quy định. Đối với dự án đầu tư công phục vụ bảo trì, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp hoặc mở rộng công trình, cơ quan, tổ chức đang quản lý sử dụng công trình cũng có thể được giao làm chủ đầu tư nếu đáp ứng điều kiện tương ứng.

Trước hết, quy định xác định rõ chủ thể có thẩm quyền giao chủ đầu tư là người quyết định đầu tư. Cơ quan hoặc tổ chức trở thành chủ đầu tư trên cơ sở được người quyết định đầu tư giao thực hiện vai trò này.

Điểm đáng chú ý tiếp theo là thời điểm giao chủ đầu tư. Việc giao có thể được thực hiện trước khi quyết định đầu tư hoặc đồng thời khi quyết định đầu tư.

Quy định về thời điểm tạo ra sự linh hoạt trong quá trình chuẩn bị dự án. Trong trường hợp cần có một chủ thể để tổ chức những công việc trước thời điểm quyết định đầu tư, người quyết định đầu tư có thể giao chủ đầu tư từ trước. Trường hợp không cần thiết phải giao sớm thì việc giao có thể được thực hiện tại thời điểm quyết định đầu tư.

Điều quan trọng là khi cơ quan, tổ chức được giao làm chủ đầu tư thì vai trò và trách nhiệm của chủ thể này phải được xác định rõ để tổ chức các công việc thuộc phạm vi của mình.

Đối với dự án đầu tư công, quy định thiết lập một thứ tự ưu tiên tương đối rõ trong việc lựa chọn chủ đầu tư. Theo đó, người quyết định đầu tư giao Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng trực thuộc làm chủ đầu tư.

Có thể xem đây là phương án được ưu tiên trong cơ chế tổ chức chủ đầu tư của dự án đầu tư công. Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng trực thuộc là chủ thể được xem xét đầu tiên trước khi chuyển sang lựa chọn một cơ quan hoặc tổ chức khác.

Vì vậy, khi xác định chủ đầu tư của một dự án đầu tư công, bước đầu tiên là kiểm tra người quyết định đầu tư có Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng trực thuộc hay không.

Nếu có Ban quản lý dự án trực thuộc thì tiếp tục xem xét tại thời điểm giao chủ đầu tư, Ban quản lý dự án có đủ khả năng thực hiện hay không.

Quy định sử dụng yếu tố “tại thời điểm giao chủ đầu tư”. Đây là một điểm rất quan trọng bởi khả năng thực hiện phải được xem xét trong bối cảnh thực tế khi quyết định giao nhiệm vụ được đưa ra.

Một Ban quản lý dự án có thể tồn tại về mặt tổ chức nhưng điều đó chưa đồng nghĩa trong mọi thời điểm đều có khả năng tiếp nhận thêm một dự án cụ thể. Vì vậy, quy định không chỉ kiểm tra sự tồn tại của Ban quản lý dự án mà còn đặt ra yêu cầu xem xét khả năng thực hiện tại thời điểm giao.

Nếu có Ban quản lý dự án trực thuộc và Ban này có đủ khả năng thực hiện thì theo nguyên tắc được nêu, người quyết định đầu tư giao Ban quản lý dự án làm chủ đầu tư.

Nếu không có Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng trực thuộc thì người quyết định đầu tư có thể chuyển sang xem xét giao cơ quan hoặc tổ chức khác.

Tương tự, nếu có Ban quản lý dự án trực thuộc nhưng tại thời điểm giao chủ đầu tư Ban này không có đủ khả năng thực hiện thì cũng có thể giao cơ quan hoặc tổ chức khác.

Như vậy, có hai căn cứ mở đường cho phương án giao một chủ thể khác làm chủ đầu tư: không tồn tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng trực thuộc hoặc có Ban nhưng Ban không đủ khả năng thực hiện tại thời điểm giao.

Tuy nhiên, việc chuyển sang giao cơ quan hoặc tổ chức khác không có nghĩa người quyết định đầu tư được lựa chọn bất kỳ cơ quan, tổ chức nào. Chủ thể được lựa chọn phải đáp ứng ít nhất một trong những điều kiện được quy định.

Điều kiện thứ nhất tập trung vào nguồn nhân lực phục vụ quản lý vốn và chuyên môn xây dựng. Theo đó, cơ quan hoặc tổ chức phải có cá nhân để thực hiện nhiệm vụ quản lý và sử dụng vốn đầu tư công để đầu tư xây dựng; đồng thời có cá nhân có chuyên môn phù hợp thuộc một trong các lĩnh vực thiết kế xây dựng, giám sát thi công xây dựng, quản lý dự án đầu tư xây dựng hoặc thi công xây dựng theo quy định của Chính phủ về điều kiện năng lực hoạt động xây dựng.

Có thể thấy điều kiện này được hình thành từ hai nhóm năng lực cần thiết. Nhóm thứ nhất liên quan đến quản lý và sử dụng vốn đầu tư công. Nhóm thứ hai liên quan đến chuyên môn trong hoạt động xây dựng.

Sự kết hợp này phản ánh bản chất của vai trò chủ đầu tư đối với dự án đầu tư công. Chủ đầu tư không chỉ thực hiện những công việc kỹ thuật xây dựng mà còn phải tổ chức quản lý nguồn vốn đầu tư công được sử dụng cho dự án.

Vì vậy, nếu một cơ quan có nhân sự chuyên môn xây dựng nhưng không có cá nhân thực hiện nhiệm vụ quản lý và sử dụng vốn đầu tư công thì chưa phản ánh đầy đủ cấu trúc điều kiện tại điểm a.

Ngược lại, nếu cơ quan có nhân sự quản lý vốn nhưng không có cá nhân có chuyên môn xây dựng phù hợp theo những lĩnh vực được quy định thì cũng chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện này.

Đối với nhóm chuyên môn xây dựng, quy định không yêu cầu một cơ quan phải đồng thời có nhân sự chuyên môn ở tất cả các lĩnh vực thiết kế, giám sát, quản lý dự án và thi công. Nội dung được nêu là có cá nhân có chuyên môn phù hợp về thiết kế xây dựng hoặc giám sát thi công xây dựng hoặc quản lý dự án đầu tư xây dựng hoặc thi công xây dựng theo quy định về điều kiện năng lực hoạt động xây dựng.

Điểm trọng tâm là tính phù hợp của chuyên môn và việc đáp ứng quy định về điều kiện năng lực tương ứng.

Như vậy, khi kiểm tra điều kiện theo điểm a không nên chỉ kiểm tra số lượng nhân sự mà phải xem xét chức năng của từng nhân sự. Một nhóm phải bảo đảm nhiệm vụ quản lý và sử dụng vốn đầu tư công; đồng thời phải có năng lực chuyên môn xây dựng phù hợp thuộc phạm vi được quy định.

Bên cạnh điều kiện về nhân sự, pháp luật đưa ra một phương án điều kiện khác dựa trên kinh nghiệm thực tế của cơ quan hoặc tổ chức. Cụ thể, cơ quan, tổ chức đã từng làm chủ đầu tư dự án đầu tư công cũng đáp ứng một trong những điều kiện để được xem xét giao làm chủ đầu tư.

Quy định sử dụng cấu trúc “đáp ứng một trong các điều kiện”, vì vậy điều kiện tại điểm a và điểm b là các phương án độc lập trong phạm vi nội dung được cung cấp.

Nói cách khác, khi không có Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng trực thuộc hoặc Ban quản lý dự án không đủ khả năng thực hiện, cơ quan hoặc tổ chức khác có thể được giao làm chủ đầu tư nếu đáp ứng điều kiện về nhân sự tại điểm a hoặc thuộc trường hợp đã từng làm chủ đầu tư dự án đầu tư công tại điểm b.

Đây là điểm cần đặc biệt chú ý để tránh hiểu thành phải đồng thời đáp ứng cả hai điều kiện.

Có thể hình dung quá trình lựa chọn chủ đầu tư của dự án đầu tư công như một chuỗi kiểm tra. Đầu tiên xác định có Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng trực thuộc hay không. Nếu có, kiểm tra khả năng thực hiện của Ban tại thời điểm giao chủ đầu tư. Nếu Ban đủ khả năng thì giao Ban làm chủ đầu tư. Nếu không có Ban hoặc Ban không đủ khả năng thì chuyển sang xem xét cơ quan, tổ chức khác. Đối với cơ quan, tổ chức khác, kiểm tra chủ thể đó có đáp ứng ít nhất một trong hai nhóm điều kiện hay không.

Cách tiếp cận này làm rõ rằng phương án giao cơ quan, tổ chức khác không phải phương án ngang hàng được lựa chọn ngay từ đầu với Ban quản lý dự án trực thuộc, mà được đặt ra khi xuất hiện một trong hai tình huống đã được quy định đối với Ban quản lý dự án.

Một nhóm dự án cần được xem xét riêng là dự án đầu tư công phục vụ mục đích bảo trì, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp hoặc mở rộng công trình xây dựng.

Đây là những dự án có liên hệ trực tiếp với công trình đang tồn tại và thường có một cơ quan hoặc tổ chức đang quản lý, sử dụng công trình.

Đối với nhóm dự án này, người quyết định đầu tư được giao cơ quan, tổ chức quản lý sử dụng làm chủ đầu tư khi cơ quan hoặc tổ chức đó đáp ứng một trong các điều kiện tại khoản 2.

Quy định này tạo cơ sở để chủ thể đang trực tiếp quản lý, sử dụng công trình có thể đảm nhận vai trò chủ đầu tư đối với dự án bảo trì, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp hoặc mở rộng chính công trình đó.

Cơ chế này có tính thực tế bởi cơ quan, tổ chức quản lý sử dụng thường là chủ thể hiểu rõ tình trạng khai thác và nhu cầu của công trình. Tuy nhiên, yếu tố đang quản lý sử dụng công trình không phải là điều kiện duy nhất.

Cơ quan, tổ chức đó vẫn phải đáp ứng một trong những điều kiện được dẫn chiếu tại khoản 2.

Như vậy, không thể hiểu rằng cứ là đơn vị quản lý sử dụng công trình thì mặc nhiên được giao làm chủ đầu tư. Người quyết định đầu tư có quyền giao nhưng việc giao phải đặt trong điều kiện về năng lực hoặc kinh nghiệm theo quy định.

Nếu cơ quan quản lý sử dụng có nhân sự đáp ứng cấu trúc điều kiện tại điểm a khoản 2 thì có thể được xem xét giao làm chủ đầu tư. Hoặc nếu cơ quan đó đã từng làm chủ đầu tư dự án đầu tư công thì đáp ứng phương án điều kiện tại điểm b.

Điểm này tạo ra sự thống nhất trong cơ chế kiểm soát chủ đầu tư. Dù là cơ quan hoặc tổ chức khác được giao thay cho Ban quản lý dự án hay là đơn vị quản lý sử dụng được giao làm chủ đầu tư đối với dự án bảo trì, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp hoặc mở rộng thì đều phải có một cơ sở chứng minh khả năng thực hiện theo các điều kiện được quy định.

Một nội dung rất quan trọng khác là cơ chế bổ sung nhân sự cho cơ quan, tổ chức đã được giao làm chủ đầu tư. Theo đó, cơ quan hoặc tổ chức được giao làm chủ đầu tư được ký kết hợp đồng thực hiện nhiệm vụ hoặc hợp đồng lao động theo quy định đối với cá nhân có chuyên môn phù hợp để tham gia tổ chức quản lý và thực hiện dự án.

Quy định này tạo ra công cụ để chủ đầu tư tăng cường nguồn nhân lực cần thiết cho quá trình triển khai dự án.

Trong thực tế, một cơ quan hoặc tổ chức có thể được giao làm chủ đầu tư nhưng không phải tại mọi thời điểm đều có sẵn toàn bộ nhân sự cần thiết cho từng nhiệm vụ phát sinh. Dự án có thể yêu cầu nhiều lĩnh vực chuyên môn và khối lượng công việc có thể thay đổi theo từng giai đoạn.

Việc cho phép ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ hoặc hợp đồng lao động với cá nhân có chuyên môn phù hợp giúp cơ quan, tổ chức chủ động bổ sung nguồn lực phục vụ dự án theo quy định.

Điểm quan trọng là đối tượng được ký hợp đồng phải là cá nhân có chuyên môn phù hợp với công việc tham gia. Như vậy, cơ chế bổ sung nhân sự không chỉ nhằm tăng số lượng người mà phải hướng đến bổ sung đúng chuyên môn cần thiết cho việc tổ chức quản lý và thực hiện dự án.

Cá nhân được bổ sung có thể tham gia vào quá trình tổ chức quản lý hoặc thực hiện các nhiệm vụ phù hợp theo phạm vi hợp đồng và chuyên môn.

Cơ chế này cũng cho thấy cần phân biệt giữa điều kiện để một cơ quan, tổ chức được giao làm chủ đầu tư với việc tổ chức bộ máy nhân sự sau khi đã được giao.

Điều kiện giao chủ đầu tư được xác định tại các khoản trước. Sau khi cơ quan, tổ chức đã được giao làm chủ đầu tư, khoản 4 tạo thêm cơ sở để chủ thể này ký hợp đồng với cá nhân có chuyên môn phù hợp nhằm phục vụ quá trình quản lý và thực hiện dự án.

Hai nội dung có quan hệ với nhau nhưng không nên đánh đồng.

Việc được phép ký hợp đồng bổ sung nhân sự không nên được hiểu là mọi điều kiện để được giao làm chủ đầu tư có thể bỏ qua từ đầu. Khi xem xét giao chủ đầu tư vẫn phải căn cứ đúng các điều kiện tương ứng được quy định.

Sau khi được giao, chủ đầu tư có thể sử dụng cơ chế hợp đồng để tổ chức nguồn lực phù hợp hơn với yêu cầu thực tế của dự án.

Nếu nhìn toàn bộ quy định theo góc độ phân chia trách nhiệm thì người quyết định đầu tư là chủ thể chịu trách nhiệm lựa chọn và giao cơ quan, tổ chức làm chủ đầu tư theo đúng trình tự điều kiện.

Đối với dự án đầu tư công, người quyết định đầu tư trước tiên phải xem xét Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng trực thuộc. Khi chuyển sang giao một cơ quan hoặc tổ chức khác, phải có căn cứ về việc không có Ban hoặc Ban không đủ khả năng thực hiện tại thời điểm giao và cơ quan, tổ chức được lựa chọn phải đáp ứng điều kiện tương ứng.

Đối với dự án bảo trì, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp hoặc mở rộng, người quyết định đầu tư có thể giao cơ quan, tổ chức quản lý sử dụng công trình nhưng vẫn phải kiểm tra điều kiện.

Cơ quan hoặc tổ chức được giao làm chủ đầu tư sau đó chịu trách nhiệm tổ chức nguồn lực để thực hiện vai trò của mình, trong đó có quyền ký hợp đồng với cá nhân có chuyên môn phù hợp.

Có thể thấy quy định tạo ra một cơ chế gồm hai lớp kiểm soát. Lớp thứ nhất là kiểm soát khi lựa chọn chủ đầu tư. Lớp thứ hai là kiểm soát nguồn lực của chủ đầu tư trong quá trình thực hiện dự án.

Ở lớp thứ nhất, câu hỏi là cơ quan hoặc tổ chức có đủ căn cứ để được giao làm chủ đầu tư hay không. Ở lớp thứ hai, câu hỏi là sau khi được giao, chủ đầu tư tổ chức nhân sự như thế nào để đáp ứng yêu cầu quản lý và thực hiện dự án.

Đối với dự án đầu tư công, cơ chế này đặc biệt quan trọng bởi chủ đầu tư phải đồng thời xử lý các nhiệm vụ có liên quan đến quản lý nguồn vốn và các vấn đề chuyên môn xây dựng.

Vì vậy, điều kiện tại điểm a được thiết kế theo hai trục: quản lý vốn đầu tư công và chuyên môn xây dựng. Đây là hai năng lực cần được nhận diện riêng khi đánh giá nhân sự.

Có thể xây dựng một quy trình kiểm tra tương đối rõ đối với việc giao chủ đầu tư.

Bước đầu tiên là xác định thời điểm dự kiến giao chủ đầu tư. Việc giao có thể thực hiện trước hoặc khi quyết định đầu tư.

Bước thứ hai là xác định dự án có phải dự án đầu tư công hay không.

Nếu là dự án đầu tư công, kiểm tra người quyết định đầu tư có Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng trực thuộc hay không.

Nếu có, đánh giá khả năng thực hiện của Ban tại thời điểm giao. Nếu Ban có đủ khả năng thì giao Ban làm chủ đầu tư theo nguyên tắc được quy định.

Nếu không có Ban hoặc Ban không đủ khả năng tại thời điểm giao thì xác định cơ quan, tổ chức khác dự kiến được giao.

Sau đó kiểm tra cơ quan, tổ chức này theo hai phương án điều kiện. Phương án thứ nhất là có cá nhân thực hiện nhiệm vụ quản lý và sử dụng vốn đầu tư công để đầu tư xây dựng, đồng thời có cá nhân có chuyên môn xây dựng phù hợp thuộc các lĩnh vực được quy định. Phương án thứ hai là cơ quan, tổ chức đã từng làm chủ đầu tư dự án đầu tư công.

Nếu dự án là dự án đầu tư công nhằm bảo trì, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp hoặc mở rộng công trình thì tiếp tục xem xét khả năng giao cơ quan, tổ chức đang quản lý sử dụng công trình làm chủ đầu tư. Tuy nhiên, chủ thể này vẫn phải đáp ứng một trong các điều kiện tại khoản 2.

Sau khi chủ đầu tư được giao, bước tiếp theo là rà soát nguồn nhân lực thực tế phục vụ dự án. Nếu cần bổ sung cá nhân có chuyên môn phù hợp, cơ quan, tổ chức được giao làm chủ đầu tư có thể ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ hoặc hợp đồng lao động theo quy định để cá nhân đó tham gia tổ chức quản lý và thực hiện dự án.

Chuỗi này có thể khái quát thành: xác định thời điểm giao → xác định loại dự án → kiểm tra Ban quản lý dự án trực thuộc → đánh giá khả năng thực hiện của Ban → nếu cần thì lựa chọn cơ quan, tổ chức khác → kiểm tra điều kiện về nhân sự hoặc kinh nghiệm → giao chủ đầu tư → tổ chức và bổ sung nguồn nhân lực chuyên môn phục vụ dự án.

Một điểm khác cần chú ý là khái niệm “đủ khả năng thực hiện” của Ban quản lý dự án và “đáp ứng điều kiện” của cơ quan, tổ chức khác không nên tự động đồng nhất. Nội dung quy định sử dụng cách diễn đạt khác nhau cho hai trường hợp. Vì vậy, khi áp dụng cần bám sát đúng căn cứ được quy định đối với từng chủ thể.

Tương tự, điều kiện “đã từng làm chủ đầu tư dự án đầu tư công” là một phương án độc lập được quy định đối với cơ quan, tổ chức khác. Không nên tự bổ sung thêm những điều kiện không xuất hiện trong nội dung được cung cấp nếu không có căn cứ từ quy định khác.

Đối với điều kiện nhân sự, việc chứng minh cũng cần hướng tới đúng các thành phần mà quy định yêu cầu. Một mặt là nhân sự thực hiện nhiệm vụ quản lý và sử dụng vốn đầu tư công để đầu tư xây dựng. Mặt khác là nhân sự có chuyên môn phù hợp trong thiết kế xây dựng, giám sát thi công, quản lý dự án hoặc thi công xây dựng theo quy định về điều kiện năng lực hoạt động xây dựng.

Việc kiểm tra đúng hai thành phần này giúp tránh tình trạng chỉ chứng minh năng lực kỹ thuật mà bỏ qua khả năng quản lý vốn hoặc ngược lại.

Trong dự án sửa chữa, cải tạo, nâng cấp hoặc mở rộng công trình, việc giao đơn vị đang quản lý sử dụng làm chủ đầu tư có thể tạo thuận lợi về thông tin hiện trạng và nhu cầu sử dụng. Tuy nhiên, chính vì đơn vị quản lý sử dụng có thể không phải là một tổ chức chuyên hoạt động đầu tư xây dựng nên yêu cầu kiểm tra điều kiện tại khoản 2 càng có ý nghĩa.

Nếu đơn vị đáp ứng điều kiện thì có thể được giao. Sau khi được giao, cơ chế ký hợp đồng với cá nhân chuyên môn tại khoản 4 tiếp tục tạo khả năng tăng cường nguồn lực cho việc quản lý dự án.

Nhìn tổng thể, quy định không chỉ trả lời câu hỏi “ai có thể làm chủ đầu tư?” mà thiết lập một thứ tự lựa chọn và một cơ chế bảo đảm năng lực tương đối rõ. Đối với dự án đầu tư công, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng trực thuộc là chủ thể được ưu tiên. Cơ quan hoặc tổ chức khác chỉ được xem xét khi không có Ban hoặc Ban không đủ khả năng tại thời điểm giao. Chủ thể thay thế phải đáp ứng ít nhất một trong các điều kiện được quy định. Đối với dự án phục vụ bảo trì, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp hoặc mở rộng, cơ quan quản lý sử dụng có thể được giao nếu đáp ứng điều kiện. Sau khi được giao, chủ đầu tư có quyền bổ sung cá nhân có chuyên môn thông qua hợp đồng phù hợp.

Cách thiết kế này vừa bảo đảm tính tổ chức, vừa tạo độ linh hoạt cần thiết. Nếu bắt buộc mọi dự án đầu tư công đều phải do một Ban quản lý dự án trực thuộc thực hiện mà không xét đến khả năng thực tế thì có thể phát sinh khó khăn khi Ban không đủ khả năng tiếp nhận. Ngược lại, nếu cho phép giao bất kỳ cơ quan nào mà không đặt ra điều kiện thì có thể làm giảm khả năng quản lý dự án. Quy định vì vậy tạo ra phương án thay thế nhưng gắn phương án thay thế với điều kiện về nhân sự hoặc kinh nghiệm.

Tóm lại, cơ chế giao chủ đầu tư được xây dựng theo nguyên tắc xác định rõ thẩm quyền, thời điểm, thứ tự ưu tiên và điều kiện của chủ thể được giao. Cơ quan hoặc tổ chức được người quyết định đầu tư giao làm chủ đầu tư trước hoặc khi quyết định đầu tư. Đối với dự án đầu tư công, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng trực thuộc là chủ thể được ưu tiên giao làm chủ đầu tư. Khi không có Ban quản lý dự án trực thuộc hoặc có Ban nhưng tại thời điểm giao Ban không đủ khả năng thực hiện, người quyết định đầu tư mới chuyển sang giao cơ quan hoặc tổ chức khác khi chủ thể này đáp ứng ít nhất một trong hai phương án điều kiện: có nhân sự thực hiện nhiệm vụ quản lý, sử dụng vốn đầu tư công đồng thời có nhân sự chuyên môn xây dựng phù hợp theo quy định về điều kiện năng lực, hoặc đã từng làm chủ đầu tư dự án đầu tư công. Đối với dự án đầu tư công phục vụ bảo trì, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp hoặc mở rộng công trình, cơ quan, tổ chức đang quản lý sử dụng công trình có thể được giao làm chủ đầu tư nhưng cũng phải đáp ứng một trong các điều kiện nói trên. Sau khi được giao, cơ quan hoặc tổ chức chủ đầu tư được ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ hoặc hợp đồng lao động với cá nhân có chuyên môn phù hợp để tham gia tổ chức quản lý và thực hiện dự án. Toàn bộ cơ chế có thể cô đọng thành nguyên tắc: xác định đúng người có thẩm quyền giao → giao chủ đầu tư trước hoặc khi quyết định đầu tư → ưu tiên Ban quản lý dự án trực thuộc đối với dự án đầu tư công → chỉ lựa chọn cơ quan, tổ chức khác khi có căn cứ → kiểm tra điều kiện nhân sự hoặc kinh nghiệm → tạo điều kiện cho chủ đầu tư bổ sung nguồn lực chuyên môn bằng hợp đồng. Qua đó, việc giao chủ đầu tư không chỉ nhằm xác định một cơ quan đứng tên dự án mà quan trọng hơn là bảo đảm có một chủ thể đủ cơ sở để tổ chức quản lý vốn, quản lý chuyên môn và chịu trách nhiệm xuyên suốt quá trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng.

 

CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ & THIẾT KẾ XÂY DỰNG MINH PHƯƠNG

Địa chỉ: Số 28B Mai Thị Lựu, Phường Đa Kao, Q.1, TPHCM

Hotline:  0903649782 - (028) 3514 6426

Email: nguyenthanhmp156@gmail.com

 


Tin tức liên quan

Giấy phép xây dựng cho toàn bộ công trình thuộc dự án
Giấy phép xây dựng cho toàn bộ công trình thuộc dự án

74 Lượt xem

Xin giấy phép cho toàn bộ công trình thuộc dự án

Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới
Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới

52 Lượt xem

Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới

Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng
Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng

60 Lượt xem

Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng

Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng
Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng

45 Lượt xem

Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng

Lập dự án đầu tư xây dựng

59 Lượt xem

Báo cáo lập dự án đầu tư xây dựng, đồng thời làm rõ thời điểm bắt buộc áp dụng, dữ liệu BIM

Áp dụng tiêu chuẩn trong hoạt động xây dựng
Áp dụng tiêu chuẩn trong hoạt động xây dựng

44 Lượt xem

Áp dụng tiêu chuẩn trong hoạt động xây dựng và lập dự án đầu tư


Bình luận
  • Đánh giá của bạn
Đã thêm vào giỏ hàng