Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới

Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới

Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới

Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới cần được hiểu là một hệ thống tài liệu pháp lý và kỹ thuật được tổ chức theo từng loại công trình, chứ không phải một danh mục giấy tờ cố định áp dụng giống nhau cho mọi trường hợp. Cấu trúc của hồ sơ được hình thành theo nguyên tắc có một nhóm tài liệu nền tảng dành cho công trình theo tuyến hoặc công trình không theo tuyến, sau đó bổ sung hoặc chuyển sang các yêu cầu riêng đối với những công trình có tính chất đặc thù như công trình tôn giáo, tín ngưỡng và công trình phụ trợ, tượng đài, tranh hoành tráng, công trình quảng cáo, công trình của cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế và cơ quan nước ngoài đầu tư tại Việt Nam. Vì vậy, bước quan trọng nhất trước khi chuẩn bị hồ sơ không phải là thu thập ngay các loại giấy tờ mà là xác định chính xác công trình thuộc nhóm nào, có phải công trình theo tuyến hay không theo tuyến, có thuộc lĩnh vực chuyên ngành đặc thù hay không và những thủ tục hành chính liên quan nào thực sự phát sinh. Khi phân loại đúng, thành phần hồ sơ sẽ được xác định theo một chuỗi logic gồm đơn đề nghị cấp phép, căn cứ pháp lý về đất đai hoặc vị trí tuyến, cơ sở pháp lý của dự án, các kết quả thủ tục chuyên ngành nếu có yêu cầu, bộ bản vẽ thiết kế và các tài liệu bổ sung dành riêng cho từng loại công trình.

Đối với công trình theo tuyến hoặc công trình không theo tuyến, tài liệu đầu tiên là Đơn đề nghị cấp giấy phép xây dựng theo Mẫu số 01 Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định.

Đơn đề nghị là tài liệu mở đầu của bộ hồ sơ, thể hiện chính thức yêu cầu cấp giấy phép xây dựng. Vì vậy, thông tin trong đơn cần được kiểm soát thống nhất với toàn bộ những tài liệu còn lại.

Tên công trình, chủ đầu tư, địa điểm xây dựng và những thông tin có liên quan trong đơn không nên tồn tại độc lập mà phải tương thích với giấy tờ về đất đai, quyết định phê duyệt dự án và bộ bản vẽ thiết kế được sử dụng để đề nghị cấp phép.

Sau đơn đề nghị là nhóm tài liệu chứng minh cơ sở pháp lý của địa điểm xây dựng.

Quy định cho phép sử dụng một trong các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng theo Điều 55 của Nghị định hoặc văn bản chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền về vị trí và phương án tuyến hoặc Quyết định thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền theo pháp luật về đất đai.

Cấu trúc này cho thấy căn cứ pháp lý về địa điểm xây dựng không được giới hạn ở một loại giấy chứng nhận duy nhất.

Đối với công trình xây dựng trên một khu đất xác định, cần kiểm tra loại giấy tờ hợp pháp về đất đai phù hợp theo Điều 55.

Đối với công trình theo tuyến, do đặc điểm công trình có thể kéo dài qua nhiều khu vực và không được tổ chức trên một lô đất tập trung như công trình thông thường, văn bản chấp thuận về vị trí và phương án tuyến hoặc quyết định thu hồi đất có thể trở thành căn cứ tương ứng theo quy định.

Do đó, khi kiểm tra hồ sơ nên đặt câu hỏi theo thứ tự: công trình là theo tuyến hay không theo tuyến; căn cứ pháp lý về vị trí xây dựng đang được sử dụng là loại nào; căn cứ đó có thuộc một trong các nhóm mà quy định cho phép hay không.

Cách kiểm tra này chính xác hơn việc mặc định mọi hồ sơ đều phải có cùng một loại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nếu hồ sơ sử dụng giấy tờ hợp pháp về đất đai thì cần đối chiếu với Điều 55 để xác định giấy tờ thuộc trường hợp nào.

Nếu sử dụng văn bản chấp thuận về vị trí và phương án tuyến thì cần kiểm tra văn bản do cơ quan có thẩm quyền ban hành và liên quan đúng đến vị trí, phương án tuyến của công trình đề nghị cấp phép.

Nếu sử dụng quyết định thu hồi đất thì phải là quyết định của cơ quan có thẩm quyền theo pháp luật về đất đai.

Sau khi xác định được cơ sở pháp lý về đất đai hoặc vị trí tuyến, bước tiếp theo là kiểm tra cơ sở pháp lý của dự án.

Thành phần được quy định trực tiếp là Quyết định phê duyệt dự án.

Đây là tài liệu quan trọng để kết nối công trình đề nghị cấp giấy phép với dự án đầu tư xây dựng đã được phê duyệt.

Do đó, hồ sơ thiết kế sử dụng để đề nghị cấp phép cần được kiểm soát trong mối quan hệ với dự án đã được phê duyệt.

Không nên xem quyết định phê duyệt dự án và bộ bản vẽ cấp phép là hai nhóm hồ sơ độc lập.

Chúng phải hướng đến cùng một dự án và cùng công trình đang được đề nghị cấp giấy phép.

Cùng nhóm này là Báo cáo kết quả thẩm tra thiết kế xây dựng theo quy định của Nghị định nếu có.

Cụm từ “nếu có” phải được giữ nguyên ý nghĩa khi áp dụng.

Báo cáo kết quả thẩm tra không phải tài liệu được mặc định yêu cầu đối với mọi công trình theo tuyến hoặc không theo tuyến.

Trước tiên phải xác định trường hợp cụ thể có phát sinh Báo cáo kết quả thẩm tra thiết kế xây dựng theo quy định hay không. Nếu có thì báo cáo được đưa vào hồ sơ. Nếu không phát sinh thì không nên biến thành một thành phần bắt buộc chung.

Sau đó là các kết quả thực hiện thủ tục hành chính thuộc những lĩnh vực chuyên ngành có liên quan.

Đối với phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, hồ sơ có kết quả thực hiện thủ tục hành chính theo quy định pháp luật tương ứng đối với hồ sơ thiết kế đề nghị cấp giấy phép xây dựng nếu có yêu cầu.

Điều kiện “nếu có yêu cầu” đặc biệt quan trọng.

Trước khi đưa tài liệu này vào danh mục bắt buộc, cần xác định công trình có thuộc trường hợp phải thực hiện thủ tục hành chính về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ đối với hồ sơ thiết kế đề nghị cấp giấy phép hay không.

Nếu có yêu cầu thì kết quả thực hiện thủ tục là thành phần của hồ sơ.

Tương tự, đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường, hồ sơ có kết quả thực hiện thủ tục hành chính về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường nếu có yêu cầu.

Cách quy định này cho thấy hồ sơ cấp giấy phép xây dựng có thể tiếp nhận kết quả của những thủ tục hành chính chuyên ngành khác nhưng không đồng nghĩa tất cả dự án đều phải thực hiện tất cả các thủ tục được liệt kê.

Phải xác định điều kiện áp dụng của từng dự án.

Văn bản ý kiến của cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh cũng được xác định theo cơ chế “nếu có yêu cầu”.

Do đó, nhóm tài liệu tại điểm c cần được chia thành hai tầng để dễ kiểm soát.

Tầng thứ nhất là Quyết định phê duyệt dự án, tức tài liệu được quy định trực tiếp.

Tầng thứ hai là các tài liệu có điều kiện, gồm Báo cáo kết quả thẩm tra thiết kế nếu có; kết quả thủ tục về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ nếu có yêu cầu; kết quả thủ tục hành chính về bảo vệ môi trường nếu có yêu cầu; văn bản ý kiến của cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh nếu có yêu cầu.

Cách phân tầng này tránh được tình trạng xây dựng một danh mục hồ sơ cứng và yêu cầu chủ đầu tư cung cấp tất cả tài liệu bất kể dự án có thuộc đối tượng thực hiện thủ tục đó hay không.

Sau các tài liệu pháp lý, bộ bản vẽ thiết kế xây dựng là nhóm tài liệu kỹ thuật trọng tâm của hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới.

Bộ bản vẽ phải thuộc hồ sơ thiết kế xây dựng triển khai sau khi dự án được phê duyệt.

Đối với dự án chỉ yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật thì sử dụng thiết kế bản vẽ thi công.

Bộ bản vẽ phải được phê duyệt hoặc đóng dấu xác nhận theo quy định pháp luật về xây dựng.

Điều này giúp phân biệt bản vẽ chính thức sử dụng để cấp phép với các bản vẽ đang trong quá trình nghiên cứu, chỉnh sửa hoặc phối hợp nội bộ.

Không phải bất kỳ bản vẽ nào do tư vấn thiết kế lập cũng có thể được đưa vào hồ sơ đề nghị cấp giấy phép. Bản vẽ phải thuộc đúng bước thiết kế tương ứng và có trạng thái phê duyệt hoặc xác nhận theo quy định.

Đối với công trình không theo tuyến, bộ bản vẽ trước hết phải thể hiện tổng mặt bằng toàn dự án và mặt bằng định vị công trình trên lô đất.

Hai loại bản vẽ này có vai trò xác định công trình nằm ở đâu trong phạm vi dự án và nằm ở vị trí nào trên khu đất.

Tổng mặt bằng cung cấp cái nhìn tổng thể về tổ chức không gian dự án, trong khi mặt bằng định vị làm rõ vị trí cụ thể của công trình đề nghị cấp phép.

Tiếp theo là các bản vẽ kiến trúc gồm mặt bằng, mặt đứng và mặt cắt chủ yếu của công trình.

Mặt bằng thể hiện tổ chức không gian theo từng cao độ hoặc tầng tương ứng. Mặt đứng thể hiện hình thức bên ngoài chủ yếu. Mặt cắt giúp làm rõ quan hệ theo phương đứng và những đặc điểm không gian cần thiết của công trình.

Ba nhóm bản vẽ này kết hợp với nhau tạo nên cơ sở để nhận diện giải pháp kiến trúc chủ yếu.

Đối với công trình theo tuyến, hệ thống bản vẽ được tổ chức theo cách khác.

Hồ sơ cần có sơ đồ vị trí tuyến công trình, bản vẽ mặt bằng tổng thể hoặc bản vẽ bình đồ công trình, cùng các bản vẽ mặt cắt dọc và mặt cắt ngang chủ yếu của tuyến.

Đây là sự khác biệt xuất phát trực tiếp từ hình thái của công trình.

Một công trình không theo tuyến được định vị chủ yếu trên một lô đất và được nhận diện qua mặt bằng, mặt đứng, mặt cắt.

Một công trình theo tuyến cần được nhận diện qua hướng tuyến, bình đồ, mặt cắt dọc và mặt cắt ngang.

Do đó, ngay ở bước lập danh mục bản vẽ cần phân loại chính xác công trình theo tuyến hay không theo tuyến.

Nếu sử dụng danh mục bản vẽ của công trình không theo tuyến cho một công trình theo tuyến hoặc ngược lại thì bộ hồ sơ có thể không phản ánh đúng những nội dung mà quy định yêu cầu.

Ngoài các bản vẽ riêng cho từng loại công trình, hồ sơ còn có các bản vẽ về móng và kết cấu.

Cụ thể, cần có bản vẽ mặt bằng, mặt cắt móng và các bản vẽ thể hiện giải pháp kết cấu chính của công trình.

Nhóm bản vẽ này thể hiện những giải pháp cơ bản liên quan đến phần móng và hệ kết cấu chính.

Tiếp theo là bản vẽ mặt bằng đấu nối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật bên ngoài công trình, dự án.

Đây là một thành phần cần được chú ý bởi công trình không tồn tại tách biệt với môi trường hạ tầng xung quanh.

Việc thể hiện đấu nối giúp xác định quan hệ giữa công trình với hệ thống hạ tầng kỹ thuật bên ngoài.

Nếu hệ thống hóa bộ bản vẽ thành các nhóm chức năng, có thể chia thành bốn lớp.

Lớp đầu tiên xác định vị trí công trình hoặc tuyến.

Lớp thứ hai thể hiện giải pháp không gian, kiến trúc hoặc hình học của tuyến.

Lớp thứ ba thể hiện móng và giải pháp kết cấu chính.

Lớp thứ tư thể hiện đấu nối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật bên ngoài.

Cách tổ chức này rất hữu ích khi kiểm tra tính đầy đủ của bộ bản vẽ trước khi nộp.

Sau bộ hồ sơ nền tảng, quy định xác định riêng hồ sơ đối với công trình tín ngưỡng, tôn giáo và phụ trợ.

Đối với công trình tôn giáo, hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng gồm các tài liệu được quy định tại khoản 1 và bổ sung văn bản chấp thuận về sự cần thiết xây dựng và quy mô công trình của cơ quan chuyên môn về tín ngưỡng, tôn giáo thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Cấu trúc hồ sơ ở đây có thể hiểu là “hồ sơ nền tảng + chấp thuận chuyên ngành”.

Điều này có nghĩa công trình tôn giáo vẫn phải chuẩn bị các nhóm tài liệu cơ bản như đơn, căn cứ đất đai hoặc vị trí, quyết định phê duyệt dự án và những tài liệu có điều kiện, bộ bản vẽ thiết kế theo khoản 1.

Sau đó mới bổ sung văn bản chuyên ngành.

Nội dung văn bản được xác định cụ thể là chấp thuận về sự cần thiết xây dựng và quy mô công trình.

Vì vậy, khi kiểm tra không nên chỉ xác nhận rằng hồ sơ có một văn bản của cơ quan chuyên môn về tín ngưỡng, tôn giáo mà cần xem văn bản có đúng nội dung được yêu cầu hay không.

Đối với công trình tín ngưỡng, quy định thiết lập một cấu trúc hồ sơ khác.

Hồ sơ gồm các tài liệu theo khoản 1, khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 60 của Nghị định, đồng thời có văn bản chấp thuận về sự cần thiết xây dựng và quy mô công trình của cơ quan chuyên môn về tín ngưỡng, tôn giáo thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Ngoài ra, đối với công trình tín ngưỡng ảnh hưởng lớn đến an toàn, lợi ích cộng đồng, phải có Báo cáo kết quả thẩm tra thiết kế xây dựng.

Điểm này tạo ra một bước kiểm tra bổ sung.

Sau khi xác định đây là công trình tín ngưỡng, cần tiếp tục xác định công trình có thuộc nhóm ảnh hưởng lớn đến an toàn, lợi ích cộng đồng hay không.

Nếu có thì Báo cáo kết quả thẩm tra thiết kế xây dựng là thành phần được quy định trực tiếp cho trường hợp này.

Do đó, không nên đồng nhất hồ sơ công trình tôn giáo với công trình tín ngưỡng.

Mặc dù đều liên quan đến lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, các điều khoản dẫn chiếu và yêu cầu về thẩm tra có sự khác nhau.

Đối với công trình tượng đài và tranh hoành tráng, cấu trúc hồ sơ tiếp tục được xây dựng theo nguyên tắc sử dụng khoản 1 làm nền tảng.

Ngoài các tài liệu của khoản 1, hồ sơ phải có văn bản của cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa có thẩm quyền theo pháp luật về hoạt động mỹ thuật.

Đây là tài liệu chuyên ngành phản ánh đặc điểm của tượng đài và tranh hoành tráng.

Các công trình này vừa là đối tượng của hoạt động xây dựng, vừa liên quan đến quản lý nhà nước về văn hóa và hoạt động mỹ thuật.

Vì vậy, chỉ hoàn thành các tài liệu xây dựng thông thường chưa đủ để hình thành bộ hồ sơ theo quy định; cần bổ sung văn bản chuyên ngành của cơ quan có thẩm quyền.

Đối với công trình quảng cáo, cách xử lý lại khác.

Quy định không yêu cầu áp dụng khoản 1 rồi bổ sung một văn bản chuyên ngành như công trình tôn giáo hoặc tượng đài, mà xác định việc thực hiện theo pháp luật về quảng cáo.

Do đó, khi nhận diện đối tượng là công trình quảng cáo, bước tiếp theo là chuyển sang hệ thống pháp luật về quảng cáo để xác định yêu cầu tương ứng.

Đây là một ví dụ điển hình về việc phải đọc đúng kỹ thuật dẫn chiếu.

Không nên tự động lấy toàn bộ danh mục hồ sơ của công trình thông thường rồi áp dụng cho công trình quảng cáo nếu quy định đã xác định thực hiện theo pháp luật về quảng cáo.

Đối với công trình của cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế và cơ quan nước ngoài đầu tư tại Việt Nam, hồ sơ được thực hiện theo quy định tương ứng tại khoản 1 và các điều khoản của Hiệp định hoặc thỏa thuận đã được ký kết với Chính phủ Việt Nam.

Như vậy, hồ sơ được hình thành từ hai nguồn căn cứ.

Nguồn thứ nhất là quy định trong Nghị định về hồ sơ tương ứng tại khoản 1.

Nguồn thứ hai là Hiệp định hoặc thỏa thuận cụ thể đã được ký với Chính phủ Việt Nam.

Khi xử lý nhóm công trình này, không thể chỉ đọc Nghị định mà bỏ qua văn kiện quốc tế hoặc thỏa thuận có liên quan.

Ngược lại, việc có Hiệp định hoặc thỏa thuận cũng không đồng nghĩa bỏ qua hoàn toàn khoản 1, bởi quy định xác định hồ sơ được thực hiện theo quy định tương ứng tại khoản 1 và các điều khoản của Hiệp định hoặc thỏa thuận.

Nếu hệ thống hóa toàn bộ quy định để sử dụng như một quy trình kiểm tra, bước đầu tiên luôn là phân loại công trình.

Câu hỏi đầu tiên: đây có phải công trình quảng cáo không? Nếu có, chuyển sang pháp luật về quảng cáo.

Nếu không, tiếp tục xác định đây có phải công trình của cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế hoặc cơ quan nước ngoài đầu tư tại Việt Nam hay không. Nếu có, áp dụng khoản 1 kết hợp Hiệp định hoặc thỏa thuận tương ứng.

Nếu không, tiếp tục xác định có phải tượng đài hoặc tranh hoành tráng hay không. Nếu có, áp dụng khoản 1 và bổ sung văn bản của cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa có thẩm quyền.

Nếu là công trình tôn giáo hoặc tín ngưỡng thì áp dụng cấu trúc hồ sơ riêng được quy định tại khoản 2.

Nếu không thuộc những trường hợp đặc thù này thì quay về bộ hồ sơ cơ bản tại khoản 1.

Sau khi phân loại công trình, bước thứ hai là xác định công trình theo tuyến hay không theo tuyến để lựa chọn căn cứ về vị trí và nhóm bản vẽ phù hợp.

Bước thứ ba là kiểm tra đơn đề nghị theo Mẫu số 01.

Bước thứ tư là kiểm tra căn cứ đất đai hoặc vị trí tuyến.

Bước thứ năm là kiểm tra Quyết định phê duyệt dự án.

Bước thứ sáu là rà soát từng thủ tục chuyên ngành có điều kiện.

Ở bước này không hỏi chung rằng “đã có hồ sơ phòng cháy chưa?” mà phải hỏi “công trình có thuộc trường hợp yêu cầu thực hiện thủ tục hành chính về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ đối với hồ sơ thiết kế đề nghị cấp phép hay không?”.

Tương tự với môi trường và ý kiến của cơ quan chuyên môn về văn hóa.

Chỉ khi điều kiện phát sinh thì kết quả thủ tục tương ứng mới được đưa vào danh mục cần có.

Bước thứ bảy là kiểm tra bộ bản vẽ.

Đối với công trình không theo tuyến, kiểm tra tổng mặt bằng toàn dự án, mặt bằng định vị, các mặt bằng kiến trúc, mặt đứng và mặt cắt chủ yếu.

Đối với công trình theo tuyến, kiểm tra sơ đồ vị trí tuyến, mặt bằng tổng thể hoặc bình đồ, mặt cắt dọc và mặt cắt ngang chủ yếu.

Sau đó kiểm tra bản vẽ mặt bằng và mặt cắt móng, giải pháp kết cấu chính và bản vẽ đấu nối hạ tầng kỹ thuật bên ngoài.

Bước thứ tám là kiểm tra tài liệu đặc thù theo loại công trình.

Bước cuối cùng là kiểm tra tính thống nhất của toàn bộ bộ hồ sơ.

Đây là bước rất quan trọng nhưng dễ bị bỏ qua.

Một bộ hồ sơ không chỉ cần “đủ tài liệu” mà các tài liệu phải cùng mô tả một công trình.

Vị trí trên bản vẽ phải phù hợp với căn cứ đất đai hoặc phương án tuyến. Tên và quy mô công trình phải được kiểm soát trong mối quan hệ với Quyết định phê duyệt dự án. Các kết quả thủ tục chuyên ngành nếu có phải tương ứng với hồ sơ thiết kế đang được sử dụng để đề nghị cấp giấy phép. Bộ bản vẽ phải thuộc đúng hồ sơ thiết kế triển khai sau khi dự án được phê duyệt hoặc thiết kế bản vẽ thi công của dự án chỉ yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật.

Nếu công trình tôn giáo hoặc tín ngưỡng thì văn bản chuyên ngành phải hướng đến đúng công trình và quy mô tương ứng.

Nếu là tượng đài hoặc tranh hoành tráng thì văn bản của cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa phải gắn với đối tượng đang đề nghị cấp phép.

Có thể gọi đây là nguyên tắc “một đối tượng cấp phép – một chuỗi hồ sơ thống nhất”.

Đơn đề nghị xác định đối tượng. Giấy tờ đất đai hoặc văn bản về tuyến xác định địa điểm. Quyết định phê duyệt dự án xác định cơ sở dự án. Các kết quả thủ tục chuyên ngành xác nhận những nội dung tương ứng nếu có yêu cầu. Bộ bản vẽ thể hiện giải pháp kỹ thuật của chính công trình đó. Tài liệu chuyên ngành bổ sung xử lý đặc điểm riêng của từng loại công trình.

Khi năm lớp thông tin này thống nhất, hồ sơ mới hình thành một chuỗi logic rõ ràng.

Một nguyên tắc khác cần đặc biệt ghi nhớ là không biến tài liệu có điều kiện thành tài liệu bắt buộc trong mọi trường hợp.

Trong quy định xuất hiện nhiều cụm từ như “nếu có” và “nếu có yêu cầu”.

Những cụm từ này có ý nghĩa pháp lý trong việc xác định phạm vi thành phần hồ sơ.

Báo cáo kết quả thẩm tra thiết kế xây dựng tại khoản 1 được xác định “nếu có”. Kết quả thủ tục về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ được yêu cầu khi trường hợp tương ứng có yêu cầu. Kết quả thủ tục về bảo vệ môi trường cũng áp dụng nếu có yêu cầu. Văn bản ý kiến của cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh tương tự chỉ phát sinh nếu có yêu cầu.

Do đó, việc kiểm tra hồ sơ cần dựa trên điều kiện của dự án thay vì một danh sách tài liệu sao chép từ dự án khác.

Tóm lại, hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới được tổ chức theo nguyên tắc “hồ sơ nền tảng + tài liệu có điều kiện + yêu cầu đặc thù”. Đối với công trình theo tuyến hoặc không theo tuyến, bộ hồ sơ nền tảng bắt đầu bằng Đơn đề nghị theo Mẫu số 01; tiếp đến là một trong các giấy tờ hợp pháp về đất đai theo Điều 55 hoặc văn bản chấp thuận về vị trí và phương án tuyến hoặc Quyết định thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền; sau đó là Quyết định phê duyệt dự án, Báo cáo kết quả thẩm tra nếu có, các kết quả thủ tục về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, bảo vệ môi trường và văn bản ý kiến của cơ quan chuyên môn về văn hóa nếu có yêu cầu; cuối cùng là bộ bản vẽ thiết kế phù hợp với công trình theo tuyến hoặc không theo tuyến, kèm bản vẽ móng, giải pháp kết cấu chính và đấu nối hạ tầng kỹ thuật. Công trình tôn giáo sử dụng hồ sơ khoản 1 và bổ sung văn bản chấp thuận về sự cần thiết xây dựng, quy mô công trình của cơ quan chuyên môn về tín ngưỡng, tôn giáo thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Công trình tín ngưỡng thực hiện theo các điều khoản được dẫn chiếu và bổ sung văn bản chuyên ngành; nếu thuộc loại ảnh hưởng lớn đến an toàn, lợi ích cộng đồng thì có Báo cáo kết quả thẩm tra thiết kế xây dựng. Tượng đài, tranh hoành tráng phải bổ sung văn bản của cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa có thẩm quyền theo pháp luật về hoạt động mỹ thuật. Công trình quảng cáo thực hiện theo pháp luật về quảng cáo. Công trình của cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế và cơ quan nước ngoài đầu tư tại Việt Nam áp dụng quy định tương ứng tại khoản 1 kết hợp các điều khoản của Hiệp định hoặc thỏa thuận đã ký với Chính phủ Việt Nam. Toàn bộ quá trình có thể cô đọng thành chuỗi kiểm soát: xác định loại công trình → xác định theo tuyến hay không theo tuyến → xác định trường hợp đặc thù → kiểm tra đơn → kiểm tra căn cứ đất đai hoặc vị trí tuyến → kiểm tra Quyết định phê duyệt dự án → nhận diện từng thủ tục chuyên ngành có điều kiện → lựa chọn đúng bộ bản vẽ → bổ sung tài liệu chuyên ngành → kiểm tra tính thống nhất của toàn bộ hồ sơ → hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới. Cách tiếp cận này giúp hồ sơ không chỉ đầy đủ về số lượng tài liệu mà còn đúng về căn cứ pháp lý, đúng loại công trình, đúng trạng thái thiết kế và thống nhất giữa thông tin pháp lý với giải pháp kỹ thuật của công trình đề nghị cấp phép.

 

CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ & THIẾT KẾ XÂY DỰNG MINH PHƯƠNG

Địa chỉ: Số 28B Mai Thị Lựu, Phường Đa Kao, Q.1, TPHCM

Hotline:  0903649782 - (028) 3514 6426

Email: nguyenthanhmp156@gmail.com

 


Tin tức liên quan

Giấy phép xây dựng cho toàn bộ công trình thuộc dự án
Giấy phép xây dựng cho toàn bộ công trình thuộc dự án

81 Lượt xem

Xin giấy phép cho toàn bộ công trình thuộc dự án

Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng
Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng

62 Lượt xem

Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng

Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng
Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng

46 Lượt xem

Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng

Lập dự án đầu tư xây dựng

61 Lượt xem

Báo cáo lập dự án đầu tư xây dựng, đồng thời làm rõ thời điểm bắt buộc áp dụng, dữ liệu BIM

Áp dụng tiêu chuẩn trong hoạt động xây dựng
Áp dụng tiêu chuẩn trong hoạt động xây dựng

45 Lượt xem

Áp dụng tiêu chuẩn trong hoạt động xây dựng và lập dự án đầu tư

Điều kiện đối với cơ quan
Điều kiện đối với cơ quan

48 Lượt xem

Các điều kiện đối với cơ quan, tổ chức được giao làm chủ đầu tư


Bình luận
  • Đánh giá của bạn
Đã thêm vào giỏ hàng