Hồ sơ trình thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi mới
Hồ sơ trình thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi mới
Hồ sơ trình thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi là tập hợp các tài liệu quan trọng để cơ quan chuyên môn về xây dựng hoặc Hội đồng thẩm định có cơ sở xem xét dự án theo phạm vi, nội dung thẩm định được pháp luật quy định. Việc chuẩn bị hồ sơ không đơn thuần là tập hợp Báo cáo nghiên cứu khả thi và gửi đến cơ quan thẩm định mà phải bảo đảm đồng thời hai yêu cầu: hồ sơ phải hợp lệ về hình thức, cách thức xác nhận và phương thức nộp; đồng thời phải đầy đủ những tài liệu pháp lý, kỹ thuật, khảo sát, thiết kế, chi phí và các tài liệu đặc thù tương ứng với từng loại dự án. Vì vậy, để chuẩn bị đúng hồ sơ, trước hết cần xác định những điều kiện để hồ sơ được xem là hợp lệ, sau đó mới kiểm tra từng nhóm tài liệu bắt buộc và những thành phần bổ sung phát sinh theo đặc điểm cụ thể của dự án.
Theo quy định, hồ sơ trình thẩm định chỉ được xem là hợp lệ khi có đầy đủ các hồ sơ, tài liệu thuộc thành phần được yêu cầu, được lập đúng quy cách, sử dụng ngôn ngữ chính là tiếng Việt và đã được cơ quan chuẩn bị dự án kiểm tra, xác nhận. Đây là nhóm điều kiện đầu tiên để hồ sơ có thể được tiếp nhận và sử dụng trong quá trình thẩm định.
Yêu cầu “có đủ hồ sơ, tài liệu” cho thấy tính hợp lệ không chỉ phụ thuộc vào nội dung của Báo cáo nghiên cứu khả thi. Một Báo cáo nghiên cứu khả thi dù được lập đầy đủ nhưng nếu thiếu các văn bản pháp lý hoặc tài liệu kèm theo thuộc trường hợp bắt buộc thì toàn bộ bộ hồ sơ vẫn chưa đáp ứng yêu cầu.
Do đó, khi kiểm tra tính đầy đủ cần xem xét hồ sơ theo danh mục tương ứng với chính dự án đang trình thẩm định. Ngoài các thành phần chung, một số dự án còn có tài liệu riêng tùy thuộc vào nguồn vốn, loại công trình, tình trạng pháp lý, việc thi tuyển phương án kiến trúc, yêu cầu của pháp luật về đường sắt, tình trạng vi phạm hành chính hoặc tính chất sửa chữa, cải tạo.
Bên cạnh tính đầy đủ, hồ sơ phải được lập đúng quy cách và có ngôn ngữ chính là tiếng Việt. Việc quy định tiếng Việt là ngôn ngữ chính tạo sự thống nhất trong quá trình tiếp nhận, nghiên cứu và thẩm định hồ sơ.
Một yêu cầu quan trọng khác là hồ sơ phải được cơ quan chuẩn bị dự án kiểm tra và xác nhận. Như vậy, trước khi chuyển đến cơ quan chuyên môn về xây dựng hoặc Hội đồng thẩm định, cơ quan chuẩn bị dự án phải thực hiện bước kiểm soát đối với bộ tài liệu mà mình trình.
Yêu cầu xác nhận còn được cụ thể hóa theo phương thức nộp hồ sơ. Nếu các giấy tờ, tài liệu được nộp trực tiếp hoặc thông qua dịch vụ bưu chính thì phải có xác nhận của cơ quan chuẩn bị dự án. Trường hợp hồ sơ được nộp trực tuyến thì phải được ký chữ ký số theo quy định.
Quy định này bảo đảm dù hồ sơ được nộp dưới hình thức giấy hay điện tử thì vẫn có cơ chế xác nhận chủ thể chịu trách nhiệm đối với tài liệu trình thẩm định. Sự khác nhau chỉ nằm ở phương thức xác nhận phù hợp với hình thức nộp.
Sau khi đáp ứng điều kiện hợp lệ về hình thức, cần kiểm tra thành phần cụ thể của hồ sơ. Tài liệu đầu tiên là Tờ trình thẩm định được lập theo Mẫu số 01 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định.
Tờ trình là văn bản chính thức thể hiện việc cơ quan chuẩn bị dự án đề nghị cơ quan chuyên môn về xây dựng hoặc Hội đồng thẩm định thực hiện thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi. Việc sử dụng mẫu thống nhất giúp các thông tin cần thiết phục vụ tiếp nhận và tổ chức thẩm định được trình bày theo cấu trúc chung.
Cùng với Tờ trình là hồ sơ Báo cáo nghiên cứu khả thi và toàn bộ các tài liệu, văn bản pháp lý kèm theo. Nhóm tài liệu pháp lý đầu tiên liên quan đến cơ sở hình thành dự án.
Tùy từng trường hợp, hồ sơ phải có văn bản về chủ trương đầu tư xây dựng dự án hoặc văn bản phê duyệt thông tin dự án. Đối với dự án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng thì tài liệu tương ứng có thể là quyết định phê duyệt Đề án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng theo pháp luật về lâm nghiệp.
Nhóm tài liệu này giúp xác định cơ sở pháp lý của việc hình thành và chuẩn bị dự án trước khi bước sang giai đoạn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi. Khi kiểm tra hồ sơ, cần xác định đúng loại văn bản áp dụng cho dự án cụ thể thay vì yêu cầu đồng thời tất cả các loại văn bản được liệt kê.
Đối với những dự án thuộc trường hợp chuyển tiếp theo pháp luật về đầu tư và không có yêu cầu phải thực hiện chấp thuận chủ trương đầu tư, hồ sơ cần có giấy tờ pháp lý tương ứng đã được hình thành theo cơ chế trước đó.
Các tài liệu có thể bao gồm Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, quyết định phê duyệt kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất, quyết định phê duyệt kết quả trúng đấu thầu dự án có sử dụng đất hoặc văn bản pháp lý khác có giá trị tương đương.
Điểm quan trọng ở đây là nhóm tài liệu này được đặt trong bối cảnh dự án chuyển tiếp và không phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư. Vì vậy, khi lập hồ sơ cần xác định đúng tình trạng pháp lý của dự án để lựa chọn tài liệu tương ứng.
Một nhóm tài liệu tiếp theo liên quan đến kiến trúc. Trường hợp công trình thuộc đối tượng có yêu cầu thi tuyển phương án thiết kế kiến trúc theo pháp luật về kiến trúc, hồ sơ trình thẩm định phải có văn bản phê duyệt phương án thiết kế kiến trúc được lựa chọn thông qua thi tuyển và các bản vẽ kèm theo.
Quy định này tạo mối liên hệ giữa kết quả thi tuyển kiến trúc và giải pháp thiết kế được sử dụng để lập Báo cáo nghiên cứu khả thi. Nếu dự án không thuộc trường hợp phải thi tuyển thì thành phần này không đặt ra.
Tiếp theo là nhóm tài liệu về quy hoạch. Hồ sơ phải có văn bản chấp thuận hoặc quyết định phê duyệt và các bản vẽ quy hoạch có liên quan của quy hoạch được sử dụng làm căn cứ lập dự án theo Điều 26 của Nghị định.
Quy hoạch là một trong những cơ sở quan trọng để lập dự án, vì vậy tài liệu trình thẩm định không chỉ cần có văn bản chấp thuận hoặc quyết định phê duyệt mà còn phải kèm theo những bản vẽ quy hoạch có liên quan.
Việc cung cấp cả phần văn bản và bản vẽ giúp cơ quan thẩm định có cơ sở đối chiếu các nội dung của dự án với những thông tin không gian và chỉ tiêu được thể hiện trong quy hoạch sử dụng làm căn cứ lập dự án.
Một nhóm tài liệu khác có tính chất kỹ thuật là các văn bản thỏa thuận, xác nhận về đấu nối hạ tầng kỹ thuật của dự án. Tùy đặc điểm của công trình, các nội dung đấu nối có thể là yếu tố cần thiết để chứng minh khả năng kết nối của dự án với hệ thống hạ tầng có liên quan.
Ngoài ra, trong trường hợp tương ứng, hồ sơ phải có văn bản chấp thuận độ cao công trình theo quy định của Chính phủ về quản lý độ cao chướng ngại vật hàng không và các trận địa quản lý, bảo vệ vùng trời tại Việt Nam.
Yêu cầu về văn bản chấp thuận độ cao được đặt ra đối với trường hợp dự án không thuộc khu vực hoặc đối tượng đã có yêu cầu lấy ý kiến thống nhất về bề mặt quản lý độ cao công trình tại giai đoạn phê duyệt quy hoạch xây dựng.
Do đó, đây không phải là tài liệu áp dụng cho mọi dự án. Cơ quan chuẩn bị dự án cần kiểm tra vị trí, đối tượng và tình trạng thực hiện thủ tục ở giai đoạn quy hoạch để xác định có phải bổ sung văn bản này hay không.
Ngoài những nhóm văn bản đã được xác định cụ thể, hồ sơ còn bao gồm các văn bản pháp lý và tài liệu khác có liên quan nếu có. Quy định mở này nhằm bao quát những tài liệu phát sinh theo đặc điểm riêng của dự án mà danh mục chung không thể liệt kê hết.
Tuy nhiên, việc bổ sung tài liệu khác phải gắn với sự liên quan của tài liệu đối với dự án và quá trình thẩm định, tránh cách hiểu rằng mọi giấy tờ hình thành trong suốt quá trình chuẩn bị dự án đều mặc nhiên phải đưa vào hồ sơ.
Bên cạnh các căn cứ pháp lý, hồ sơ khảo sát xây dựng được phê duyệt là một thành phần quan trọng. Khảo sát xây dựng cung cấp dữ liệu đầu vào cho việc lựa chọn và tính toán các giải pháp thiết kế tại Báo cáo nghiên cứu khả thi.
Yêu cầu ở đây không chỉ là có tài liệu khảo sát mà phải có hồ sơ khảo sát xây dựng đã được phê duyệt. Điều này giúp xác định nguồn dữ liệu kỹ thuật được sử dụng trong thiết kế đã trải qua quá trình kiểm soát theo quy định.
Trung tâm của toàn bộ hồ sơ vẫn là Báo cáo nghiên cứu khả thi. Hồ sơ Báo cáo nghiên cứu khả thi bao gồm phần thuyết minh và hồ sơ thiết kế xây dựng được lập tại Báo cáo nghiên cứu khả thi.
Hai thành phần này cần được xem xét trong mối quan hệ thống nhất. Phần thuyết minh trình bày các nội dung của dự án, trong khi hồ sơ thiết kế xây dựng cụ thể hóa những giải pháp xây dựng tương ứng ở giai đoạn Báo cáo nghiên cứu khả thi.
Nếu thiết kế xây dựng đã được tổ chức thẩm tra thì hồ sơ trình thẩm định còn có Báo cáo kết quả thẩm tra thiết kế xây dựng. Báo cáo được lập theo Mẫu số 02 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định.
Việc Báo cáo kết quả thẩm tra được ghi kèm điều kiện “nếu có” cho thấy đây không phải thành phần áp dụng đồng loạt đối với mọi hồ sơ. Chỉ trong trường hợp có hoạt động thẩm tra tương ứng thì Báo cáo kết quả thẩm tra mới trở thành thành phần của hồ sơ trình thẩm định.
Ngoài các tài liệu chung, một số loại dự án phải bổ sung tài liệu chuyên ngành. Đối với dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt có yêu cầu phải chấp thuận danh mục tiêu chuẩn theo pháp luật về đường sắt, hồ sơ trình thẩm định phải có văn bản chấp thuận danh mục tiêu chuẩn của cơ quan có thẩm quyền.
Điều này cho thấy khi dự án thuộc lĩnh vực có pháp luật chuyên ngành đặt ra thủ tục liên quan trực tiếp đến giải pháp kỹ thuật thì kết quả thực hiện thủ tục đó có thể trở thành thành phần của hồ sơ trình thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi.
Do đó, đối với dự án đường sắt cần kiểm tra ngay từ quá trình chuẩn bị hồ sơ xem dự án có thuộc trường hợp phải chấp thuận danh mục tiêu chuẩn hay không. Nếu thuộc trường hợp đó thì văn bản chấp thuận là thành phần phải có trong bộ hồ sơ.
Một nhóm dự án khác phải bổ sung các tài liệu liên quan đến tổng mức đầu tư. Đó là các dự án quy định tại điểm a, điểm b và điểm c khoản 1 Điều 17 Luật Xây dựng năm 2025.
Đối với những dự án này, ngoài các thành phần chung đã nêu, hồ sơ phải có tổng mức đầu tư và những thông tin, số liệu liên quan về giá, định mức, báo giá, kết quả thẩm định giá nếu có để xác định tổng mức đầu tư.
Yêu cầu này cho thấy cơ quan chuẩn bị dự án không chỉ trình một con số tổng mức đầu tư mà còn phải cung cấp những dữ liệu có liên quan làm cơ sở cho việc xác định giá trị đó.
Các thông tin về giá, định mức, báo giá và kết quả thẩm định giá nếu có tạo cơ sở để xem xét cách thức hình thành tổng mức đầu tư. Thành phần nào được sử dụng cần phù hợp với cơ sở xác định tổng mức đầu tư của dự án cụ thể.
Một trường hợp cần đặc biệt chú ý là dự án có vi phạm hành chính về xây dựng đã bị xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả có yêu cầu thực hiện thẩm định, thẩm định điều chỉnh, cấp giấy phép xây dựng hoặc điều chỉnh giấy phép xây dựng.
Trong trường hợp này, hồ sơ trình thẩm định phải bổ sung một nhóm tài liệu phản ánh cả quá trình thực hiện dự án, tình trạng thi công thực tế và việc xử lý vi phạm.
Trước hết là Báo cáo của chủ đầu tư về quá trình thực hiện dự án và tình hình thực tế thi công các công trình xây dựng của dự án đến thời điểm trình thẩm định.
Báo cáo này giúp cơ quan thẩm định nhận diện trạng thái thực tế của công trình. Điều này đặc biệt cần thiết vì hồ sơ được trình trong bối cảnh dự án đã có hoạt động xây dựng và đã phát sinh vi phạm hành chính.
Tiếp theo là biên bản và quyết định xử phạt vi phạm hành chính của cấp có thẩm quyền. Đây là tài liệu xác định chính thức hành vi vi phạm và việc xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Việc đưa các tài liệu xử phạt vào hồ sơ giúp cơ quan thẩm định có đầy đủ thông tin về bối cảnh pháp lý của công trình, đặc biệt khi biện pháp khắc phục hậu quả đặt ra yêu cầu phải thực hiện lại hoặc bổ sung các thủ tục liên quan đến thẩm định hay giấy phép xây dựng.
Bên cạnh đó, hồ sơ phải có Báo cáo kiểm định của tổ chức kiểm định xây dựng đánh giá khả năng chịu lực của phần công trình đã thi công xây dựng.
Đây là thành phần kỹ thuật đặc biệt quan trọng vì công trình hoặc một phần công trình đã được thi công trên thực tế. Việc thẩm định trong trường hợp này không thể chỉ dựa trên hồ sơ thiết kế mà cần có thông tin về tình trạng và khả năng chịu lực của phần công trình đã hình thành.
Có thể thấy hồ sơ đối với dự án có vi phạm hành chính được bổ sung theo ba hướng: thông tin thực tế do chủ đầu tư báo cáo; tài liệu pháp lý về việc xử phạt; và kết quả kiểm định kỹ thuật của phần công trình đã thi công. Ba nhóm thông tin này giúp phản ánh tương đối đầy đủ tình trạng thực tế, pháp lý và kỹ thuật của dự án tại thời điểm trình thẩm định.
Một trường hợp đặc thù khác là dự án sửa chữa, cải tạo. Đối với dự án này, ngoài các thành phần hồ sơ chung, phải bổ sung hồ sơ khảo sát hiện trạng.
Khác với dự án xây dựng mới, dự án sửa chữa hoặc cải tạo tác động đến một công trình đã tồn tại. Vì vậy, việc hiểu rõ hiện trạng công trình là cơ sở quan trọng để xác định giải pháp sửa chữa, cải tạo phù hợp.
Hồ sơ khảo sát hiện trạng giúp cung cấp thông tin về tình trạng thực tế của công trình trước khi thực hiện các giải pháp thiết kế sửa chữa, cải tạo. Nội dung thiết kế cần được xây dựng trên cơ sở dữ liệu hiện trạng thay vì chỉ dựa vào hồ sơ ban đầu của công trình.
Ngoài hồ sơ khảo sát hiện trạng, trong trường hợp nội dung sửa chữa, cải tạo có liên quan đến khả năng chịu lực của công trình thì hồ sơ còn phải có Báo cáo kiểm định của tổ chức kiểm định xây dựng đánh giá về khả năng chịu lực.
Điều kiện “trường hợp nội dung sửa chữa, cải tạo có liên quan” rất quan trọng. Báo cáo kiểm định khả năng chịu lực không được xác định là thành phần bắt buộc trong mọi dự án sửa chữa, cải tạo mà được yêu cầu khi nội dung sửa chữa, cải tạo có liên quan đến vấn đề này.
Việc phân biệt giúp hồ sơ phù hợp với tính chất thực tế của công việc. Đối với sửa chữa, cải tạo có ảnh hưởng hoặc liên quan đến khả năng chịu lực, việc kiểm định cung cấp cơ sở để đánh giá hiện trạng trước khi lựa chọn giải pháp thiết kế.
Nếu hệ thống hóa toàn bộ thành phần hồ sơ theo trình tự kiểm tra, có thể bắt đầu bằng việc xác định tính hợp lệ về hình thức. Cơ quan chuẩn bị dự án cần kiểm tra bộ hồ sơ có đầy đủ thành phần hay không, có đúng quy cách hay không, ngôn ngữ chính có phải tiếng Việt hay không và các tài liệu đã được kiểm tra, xác nhận hay chưa.
Tiếp theo cần xác định phương thức nộp. Nếu nộp trực tiếp hoặc qua bưu chính thì giấy tờ, tài liệu phải có xác nhận của cơ quan chuẩn bị dự án. Nếu nộp trực tuyến thì phải thực hiện ký chữ ký số theo quy định.
Sau khi hoàn thành bước kiểm tra hình thức, cần kiểm tra nhóm tài liệu pháp lý nền tảng của dự án gồm Tờ trình theo Mẫu số 01, văn bản chủ trương đầu tư hoặc văn bản phê duyệt thông tin dự án, hay tài liệu tương ứng với dự án du lịch sinh thái trong rừng. Nếu là dự án chuyển tiếp thì kiểm tra giấy phép, giấy chứng nhận hoặc văn bản pháp lý có giá trị tương đương phù hợp.
Tiếp đó là nhóm tài liệu liên quan đến kiến trúc và quy hoạch. Nếu dự án phải thi tuyển phương án kiến trúc thì phải có văn bản phê duyệt phương án được lựa chọn và bản vẽ kèm theo. Hồ sơ đồng thời phải có văn bản chấp thuận hoặc quyết định phê duyệt cùng các bản vẽ quy hoạch liên quan của quy hoạch làm căn cứ lập dự án.
Nhóm tiếp theo là các tài liệu liên quan đến điều kiện kỹ thuật và vị trí dự án, gồm văn bản thỏa thuận, xác nhận về đấu nối hạ tầng kỹ thuật, văn bản chấp thuận độ cao công trình trong trường hợp phải có và những tài liệu pháp lý khác có liên quan.
Sau đó là nhóm hồ sơ kỹ thuật cốt lõi gồm hồ sơ khảo sát xây dựng được phê duyệt, phần thuyết minh Báo cáo nghiên cứu khả thi, hồ sơ thiết kế xây dựng lập tại Báo cáo nghiên cứu khả thi và Báo cáo kết quả thẩm tra thiết kế nếu có.
Sau khi kiểm tra thành phần chung, phải chuyển sang bước xác định những tài liệu đặc thù. Nếu là dự án đường sắt thuộc trường hợp phải chấp thuận danh mục tiêu chuẩn thì bổ sung văn bản chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền. Nếu thuộc các dự án quy định tại điểm a, b và c khoản 1 Điều 17 Luật Xây dựng năm 2025 thì phải có tổng mức đầu tư cùng thông tin, số liệu về giá, định mức, báo giá và kết quả thẩm định giá nếu có.
Nếu dự án đã có vi phạm hành chính về xây dựng và thuộc trường hợp biện pháp khắc phục hậu quả yêu cầu thực hiện các thủ tục được quy định thì cần bổ sung Báo cáo của chủ đầu tư về quá trình thực hiện và tình hình thi công thực tế, biên bản và quyết định xử phạt cùng Báo cáo kiểm định khả năng chịu lực của phần công trình đã thi công.
Nếu là dự án sửa chữa, cải tạo thì cần bổ sung hồ sơ khảo sát hiện trạng và, trong trường hợp nội dung sửa chữa, cải tạo có liên quan, Báo cáo kiểm định đánh giá khả năng chịu lực của công trình.
Cách hệ thống hóa này giúp tránh hai sai sót thường gặp trong quá trình chuẩn bị hồ sơ: thiếu tài liệu bắt buộc hoặc đưa vào hồ sơ những tài liệu không phù hợp với trường hợp cụ thể. Danh mục hồ sơ cần được xác định trên cơ sở tính chất pháp lý và kỹ thuật thực tế của từng dự án.
Điểm xuyên suốt của quy định là trách nhiệm của cơ quan chuẩn bị dự án. Cơ quan này không chỉ tập hợp tài liệu mà còn phải kiểm tra và xác nhận trước khi trình. Điều đó tạo ra một bước kiểm soát nội bộ trước khi hồ sơ được chuyển đến cơ quan chuyên môn về xây dựng hoặc Hội đồng thẩm định.
Việc chuẩn bị hồ sơ đầy đủ ngay từ đầu có ý nghĩa đối với quá trình thẩm định, bởi cơ quan thẩm định cần các tài liệu pháp lý và kỹ thuật phù hợp để xem xét các nội dung thuộc phạm vi trách nhiệm. Thiếu một tài liệu có liên quan có thể làm cho một nội dung chưa có đủ cơ sở để xem xét.
Nhìn tổng thể, hồ sơ trình thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi có thể được hiểu là một hệ thống tài liệu chứng minh toàn bộ cơ sở hình thành của dự án tại thời điểm thẩm định. Trong đó, Tờ trình xác lập yêu cầu thẩm định; các văn bản đầu tư chứng minh cơ sở hình thành dự án; tài liệu quy hoạch xác định cơ sở không gian và các nội dung liên quan; khảo sát cung cấp dữ liệu kỹ thuật; Báo cáo nghiên cứu khả thi trình bày phương án đầu tư và thiết kế; tài liệu về tổng mức đầu tư cung cấp cơ sở chi phí đối với trường hợp tương ứng; còn các tài liệu đặc thù phản ánh những yêu cầu riêng của từng dự án.
Đối với dự án có tình trạng đặc biệt như đã phát sinh vi phạm hành chính hoặc là dự án sửa chữa, cải tạo, hồ sơ còn phải phản ánh trạng thái thực tế của công trình. Đây là lý do xuất hiện yêu cầu về báo cáo tình hình thi công, hồ sơ khảo sát hiện trạng và báo cáo kiểm định.
Tóm lại, để hồ sơ trình thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi được xem là hợp lệ, trước hết phải bảo đảm đầy đủ tài liệu, đúng quy cách, sử dụng tiếng Việt làm ngôn ngữ chính và được cơ quan chuẩn bị dự án kiểm tra, xác nhận. Hồ sơ giấy nộp trực tiếp hoặc qua bưu chính phải có xác nhận của cơ quan chuẩn bị dự án; hồ sơ trực tuyến phải được ký chữ ký số. Thành phần hồ sơ bao gồm Tờ trình theo Mẫu số 01, Báo cáo nghiên cứu khả thi và hệ thống tài liệu pháp lý, kỹ thuật kèm theo như văn bản về chủ trương đầu tư hoặc thông tin dự án, giấy tờ của dự án chuyển tiếp nếu thuộc trường hợp áp dụng, kết quả thi tuyển kiến trúc nếu có, tài liệu quy hoạch, thỏa thuận đấu nối, chấp thuận độ cao khi cần thiết, hồ sơ khảo sát xây dựng được phê duyệt, thuyết minh và thiết kế xây dựng của Báo cáo nghiên cứu khả thi, Báo cáo kết quả thẩm tra nếu có và các tài liệu liên quan khác. Dự án đường sắt thuộc trường hợp phải chấp thuận danh mục tiêu chuẩn phải bổ sung văn bản chấp thuận. Các dự án thuộc điểm a, b, c khoản 1 Điều 17 Luật Xây dựng năm 2025 phải bổ sung tổng mức đầu tư và dữ liệu liên quan phục vụ xác định tổng mức đầu tư. Dự án đã có vi phạm hành chính phải bổ sung tài liệu về quá trình thực hiện, tình hình thi công, xử phạt và kiểm định khả năng chịu lực của phần đã xây dựng. Dự án sửa chữa, cải tạo phải có hồ sơ khảo sát hiện trạng và Báo cáo kiểm định khả năng chịu lực khi nội dung sửa chữa, cải tạo có liên quan. Việc chuẩn bị hồ sơ vì vậy cần được thực hiện theo nguyên tắc vừa đầy đủ thành phần chung, vừa nhận diện chính xác các thành phần đặc thù của từng dự án, qua đó tạo cơ sở cho cơ quan chuyên môn về xây dựng hoặc Hội đồng thẩm định thực hiện quá trình thẩm định trên một bộ hồ sơ thống nhất, rõ ràng và phù hợp với tình trạng thực tế của dự án.

CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ & THIẾT KẾ XÂY DỰNG MINH PHƯƠNG
Địa chỉ: Số 28B Mai Thị Lựu, Phường Đa Kao, Q.1, TPHCM
Hotline: 0903649782 - (028) 3514 6426
Email: nguyenthanhmp156@gmail.com
Xem thêm