Hồ sơ trình thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi

Hồ sơ trình thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi

Hồ sơ trình thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi là tập hợp các tài liệu có vai trò trực tiếp phục vụ cơ quan chuyên môn về xây dựng hoặc Hội đồng thẩm định trong quá trình xem xét dự án. Đây không đơn thuần là việc tập hợp Báo cáo nghiên cứu khả thi và gửi đến cơ quan thẩm định, mà là một hệ thống hồ sơ bao gồm tờ trình, hồ sơ dự án, tài liệu pháp lý, hồ sơ khảo sát, thiết kế xây dựng và những tài liệu chuyên ngành có liên quan tùy theo tính chất của từng dự án. Vì vậy, trước khi xem xét nội dung chuyên môn của Báo cáo nghiên cứu khả thi, hồ sơ phải đáp ứng các điều kiện về thành phần, quy cách, ngôn ngữ, xác nhận và phương thức nộp theo quy định.

Việc quy định cụ thể thành phần hồ sơ có ý nghĩa quan trọng đối với cả cơ quan chuẩn bị dự án và chủ thể thực hiện thẩm định. Đối với cơ quan chuẩn bị dự án, đây là căn cứ để kiểm tra và hoàn thiện tài liệu trước khi trình. Đối với cơ quan chuyên môn về xây dựng hoặc Hội đồng thẩm định, hồ sơ là nguồn thông tin chính thức để kiểm tra cơ sở pháp lý, quy hoạch, điều kiện đầu tư, kết quả khảo sát, giải pháp thiết kế và các vấn đề có liên quan đến dự án. Do đó, tính đầy đủ và thống nhất của hồ sơ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tổ chức thẩm định.

Trước hết, một bộ hồ sơ trình thẩm định chỉ được xem là hợp lệ khi đáp ứng đồng thời các yêu cầu được quy định. Điều kiện đầu tiên là phải có đầy đủ các hồ sơ, tài liệu thuộc thành phần quy định. Các tài liệu phải đúng quy cách, được trình bày với ngôn ngữ chính là tiếng Việt và phải được cơ quan chuẩn bị dự án kiểm tra, xác nhận.

Yêu cầu về đầy đủ hồ sơ cần được hiểu gắn với đặc điểm cụ thể của từng dự án. Bên cạnh những tài liệu chung mà một hồ sơ Báo cáo nghiên cứu khả thi phải có, một số loại dự án còn phải bổ sung tài liệu riêng. Vì vậy, việc kiểm tra tính đầy đủ không thể chỉ thực hiện bằng một danh mục giống nhau cho mọi dự án mà cần đối chiếu với loại hình, lĩnh vực, tình trạng pháp lý và nội dung đầu tư của dự án.

Ngôn ngữ chính của hồ sơ là tiếng Việt. Đây là yêu cầu thống nhất về ngôn ngữ sử dụng trong hồ sơ trình cơ quan nhà nước thực hiện thẩm định. Đồng thời, cơ quan chuẩn bị dự án có trách nhiệm kiểm tra và xác nhận hồ sơ trước khi trình. Như vậy, trách nhiệm về tính đầy đủ và tình trạng của hồ sơ không hoàn toàn chuyển sang cơ quan thẩm định tại thời điểm tiếp nhận mà trước hết thuộc về cơ quan chuẩn bị dự án.

Hình thức xác nhận hồ sơ cũng được phân biệt theo phương thức nộp. Nếu hồ sơ, giấy tờ và tài liệu được nộp trực tiếp hoặc thông qua dịch vụ bưu chính thì phải có xác nhận của cơ quan chuẩn bị dự án. Nếu hồ sơ được nộp trực tuyến thì phải được ký chữ ký số theo quy định.

Quy định này tạo cơ sở cho cả phương thức thực hiện thủ tục bằng hồ sơ vật lý và phương thức điện tử. Dù lựa chọn hình thức nào, nguyên tắc chung vẫn là hồ sơ phải có cơ chế xác nhận nguồn gốc và trách nhiệm của cơ quan chuẩn bị dự án. Đối với hồ sơ trực tuyến, chữ ký số thực hiện chức năng xác nhận tương ứng trong môi trường điện tử.

Về thành phần, hồ sơ trình thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi trước hết phải có Tờ trình thẩm định được lập theo Mẫu số 01 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định. Tờ trình là văn bản chính thức để đề nghị cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc thẩm định và là một trong những tài liệu trung tâm của bộ hồ sơ.

Cùng với Tờ trình là toàn bộ hồ sơ Báo cáo nghiên cứu khả thi và các tài liệu, văn bản pháp lý kèm theo. Các tài liệu này tạo thành căn cứ để cơ quan chuyên môn về xây dựng hoặc Hội đồng thẩm định xác định cơ sở hình thành dự án và xem xét các nội dung thuộc phạm vi thẩm định.

Nhóm tài liệu pháp lý đầu tiên là văn bản về chủ trương đầu tư xây dựng dự án hoặc văn bản phê duyệt thông tin dự án. Đây là những tài liệu thể hiện cơ sở để dự án được tiếp tục chuẩn bị và lập Báo cáo nghiên cứu khả thi theo trường hợp tương ứng.

Riêng đối với dự án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng, hồ sơ có thể phải bao gồm quyết định phê duyệt Đề án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp. Việc yêu cầu tài liệu này phản ánh đặc thù của dự án được triển khai trong phạm vi liên quan đến rừng và phải gắn với cơ sở pháp lý chuyên ngành tương ứng.

Một nhóm tài liệu khác được quy định cho những dự án thuộc trường hợp chuyển tiếp theo pháp luật về đầu tư và không có yêu cầu phải thực hiện chấp thuận chủ trương đầu tư. Trong trường hợp này, hồ sơ phải có tài liệu pháp lý phù hợp như Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, Quyết định phê duyệt kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất, quyết định hoặc tài liệu về kết quả trúng đấu thầu dự án có sử dụng đất hoặc văn bản pháp lý khác có giá trị tương đương.

Quy định này giải quyết tình huống các dự án được hình thành trong những thời kỳ hoặc theo những cơ chế pháp lý khác nhau. Thay vì yêu cầu tất cả dự án phải có cùng một loại văn bản về chủ trương đầu tư, hồ sơ được phép sử dụng tài liệu pháp lý tương ứng với cơ chế đầu tư đã áp dụng cho dự án, với điều kiện dự án thuộc trường hợp chuyển tiếp và không phải thực hiện chấp thuận chủ trương đầu tư.

Do đó, khi chuẩn bị hồ sơ cần xác định đúng tình trạng pháp lý của dự án. Nếu dự án thuộc trường hợp phải có văn bản về chủ trương đầu tư thì phải cung cấp tài liệu tương ứng. Nếu thuộc trường hợp chuyển tiếp không phải thực hiện chấp thuận chủ trương đầu tư thì phải cung cấp một trong những giấy tờ hoặc văn bản pháp lý có giá trị tương đương theo quy định.

Đối với dự án có yêu cầu tổ chức thi tuyển phương án kiến trúc, hồ sơ phải có văn bản phê duyệt phương án thiết kế kiến trúc được lựa chọn theo pháp luật về kiến trúc thông qua thi tuyển và các bản vẽ kèm theo. Thành phần này chỉ được đặt ra khi dự án thuộc trường hợp có yêu cầu thi tuyển.

Văn bản phê duyệt phương án kiến trúc và bản vẽ kèm theo giúp xác định phương án đã được lựa chọn làm cơ sở cho quá trình phát triển thiết kế của dự án. Do đó, hồ sơ thiết kế trong Báo cáo nghiên cứu khả thi cần được đặt trong mối quan hệ với phương án kiến trúc đã được lựa chọn khi dự án thuộc trường hợp phải tổ chức thi tuyển.

Một nhóm tài liệu đặc biệt quan trọng khác là hồ sơ quy hoạch. Hồ sơ trình thẩm định phải có văn bản chấp thuận hoặc quyết định phê duyệt cùng các bản vẽ quy hoạch có liên quan của quy hoạch được sử dụng làm căn cứ lập dự án theo Điều 26 của Nghị định.

Quy hoạch là một trong những cơ sở quan trọng để xác định các điều kiện không gian và tổ chức đầu tư của dự án. Vì vậy, việc chỉ cung cấp thông tin chung về quy hoạch mà không có văn bản chấp thuận hoặc quyết định phê duyệt và bản vẽ liên quan sẽ không phản ánh đầy đủ cơ sở quy hoạch được sử dụng để lập Báo cáo nghiên cứu khả thi.

Bên cạnh quy hoạch, hồ sơ còn phải có các văn bản thỏa thuận, xác nhận về đấu nối hạ tầng kỹ thuật của dự án khi có. Nội dung đấu nối có ý nghĩa đối với việc xác định khả năng kết nối dự án với các hệ thống hạ tầng kỹ thuật liên quan. Tùy tính chất dự án, các tài liệu này được bổ sung vào hồ sơ để phục vụ việc xem xét giải pháp đầu tư.

Đối với công trình thuộc trường hợp có yêu cầu liên quan đến quản lý độ cao, hồ sơ còn phải có văn bản chấp thuận độ cao công trình theo quy định của Chính phủ về quản lý độ cao chướng ngại vật hàng không và các trận địa quản lý, bảo vệ vùng trời tại Việt Nam. Yêu cầu này được áp dụng trong trường hợp dự án không thuộc khu vực hoặc đối tượng đã có yêu cầu lấy ý kiến thống nhất về bề mặt quản lý độ cao công trình tại giai đoạn phê duyệt quy hoạch xây dựng.

Như vậy, tài liệu về độ cao công trình không phải là thành phần bắt buộc đối với mọi dự án. Cơ quan chuẩn bị dự án cần xác định dự án có thuộc trường hợp phải thực hiện thủ tục này hay không và thủ tục liên quan đã được xử lý tại giai đoạn quy hoạch hay chưa để chuẩn bị hồ sơ phù hợp.

Ngoài những tài liệu đã được liệt kê, hồ sơ có thể bao gồm các văn bản pháp lý và tài liệu khác có liên quan. Quy định mở này cần thiết bởi mỗi dự án có thể chịu sự điều chỉnh của những yêu cầu pháp lý khác nhau tùy thuộc vào lĩnh vực, địa điểm và tính chất đầu tư. Những tài liệu có liên quan nếu thuộc trường hợp dự án phải có sẽ trở thành một phần của hồ sơ phục vụ thẩm định.

Một thành phần không thể thiếu về phương diện kỹ thuật là hồ sơ khảo sát xây dựng đã được phê duyệt. Khảo sát xây dựng cung cấp dữ liệu đầu vào để lập giải pháp thiết kế. Vì vậy, hồ sơ khảo sát được sử dụng trong Báo cáo nghiên cứu khả thi phải được phê duyệt trước khi đưa vào bộ hồ sơ trình thẩm định theo yêu cầu.

Sự thống nhất giữa kết quả khảo sát và thiết kế là vấn đề quan trọng. Hồ sơ thiết kế được lập dựa trên các dữ liệu về hiện trạng và điều kiện xây dựng; vì vậy, hồ sơ khảo sát là một phần cơ sở để cơ quan thẩm định xem xét các giải pháp được đề xuất trong Báo cáo nghiên cứu khả thi.

Thành phần trung tâm của bộ hồ sơ chính là Báo cáo nghiên cứu khả thi. Báo cáo bao gồm phần thuyết minh và hồ sơ thiết kế xây dựng được lập tại Báo cáo nghiên cứu khả thi. Hai bộ phận này phải được xem xét trong mối quan hệ thống nhất bởi phần thuyết minh trình bày các nội dung của dự án, trong khi hồ sơ thiết kế cụ thể hóa những giải pháp xây dựng tương ứng.

Nếu dự án có thực hiện thẩm tra thiết kế xây dựng, hồ sơ trình thẩm định còn bao gồm Báo cáo kết quả thẩm tra thiết kế xây dựng được lập theo Mẫu số 02 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định. Việc bổ sung báo cáo thẩm tra trong trường hợp có thực hiện giúp cơ quan thẩm định có thêm kết quả chuyên môn đã được tổ chức thẩm tra trước đó để phục vụ quá trình xem xét.

Đối với dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt có yêu cầu phải chấp thuận danh mục tiêu chuẩn theo pháp luật về đường sắt, hồ sơ có thêm một thành phần chuyên ngành là văn bản chấp thuận danh mục tiêu chuẩn của cơ quan có thẩm quyền.

Đây là ví dụ rõ về việc thành phần hồ sơ được điều chỉnh theo tính chất chuyên ngành của dự án. Một dự án đường sắt thuộc trường hợp phải chấp thuận danh mục tiêu chuẩn không thể chỉ sử dụng bộ hồ sơ chung mà phải bổ sung văn bản chứng minh danh mục tiêu chuẩn đã được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận.

Đối với các dự án quy định tại điểm a, b và c khoản 1 Điều 17 Luật Xây dựng năm 2025, yêu cầu về hồ sơ được mở rộng sang nội dung quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Ngoài các tài liệu chung, hồ sơ phải có tổng mức đầu tư và các thông tin, số liệu có liên quan về giá, định mức, báo giá và kết quả thẩm định giá nếu có để xác định tổng mức đầu tư.

Việc yêu cầu cung cấp cả tổng mức đầu tư và dữ liệu làm cơ sở xác định tổng mức giúp quá trình thẩm định không chỉ nhìn vào con số kết quả cuối cùng. Các thông tin về giá, định mức, báo giá và kết quả thẩm định giá nếu có là căn cứ để xem xét cách thức hình thành tổng mức đầu tư của dự án.

Do đó, khi chuẩn bị hồ sơ cho các dự án thuộc trường hợp này, phần tài liệu về chi phí cần được tổ chức có hệ thống và có khả năng liên kết với tổng mức đầu tư được trình. Việc chỉ thể hiện tổng số mà không có các thông tin, số liệu liên quan theo yêu cầu sẽ không phản ánh đầy đủ thành phần hồ sơ phải trình.

Một trường hợp đặc biệt khác là dự án có vi phạm hành chính về xây dựng đã bị xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả có yêu cầu phải thực hiện thẩm định, thẩm định điều chỉnh, cấp giấy phép xây dựng hoặc điều chỉnh giấy phép xây dựng. Đây là trường hợp dự án đã có quá trình thực hiện trên thực tế và phát sinh vi phạm, vì vậy hồ sơ thẩm định cần phản ánh cả tình trạng pháp lý lẫn hiện trạng công trình.

Trước hết, chủ đầu tư phải lập Báo cáo về quá trình thực hiện dự án và tình hình thực tế thi công các công trình xây dựng của dự án đến thời điểm trình thẩm định. Báo cáo này giúp xác định dự án đã được triển khai đến đâu, những hạng mục nào đã thi công và tình trạng thực tế tại thời điểm cơ quan có thẩm quyền xem xét hồ sơ.

Khác với dự án chưa triển khai xây dựng, việc thẩm định một dự án đã thi công một phần không thể chỉ dựa trên hồ sơ thiết kế dự kiến. Cơ quan thẩm định cần biết thực tế công trình đã được thực hiện như thế nào để đặt hồ sơ được trình trong đúng bối cảnh hiện trạng.

Hồ sơ đồng thời phải có biên bản và quyết định xử phạt vi phạm hành chính của cấp có thẩm quyền. Đây là tài liệu phản ánh tình trạng vi phạm đã được cơ quan có thẩm quyền xác lập và là cơ sở để nhận diện nội dung liên quan đến biện pháp khắc phục hậu quả.

Ngoài ra, phải có Báo cáo kiểm định của tổ chức kiểm định xây dựng đánh giá về khả năng chịu lực của phần công trình đã thi công xây dựng. Thành phần này đặc biệt quan trọng bởi đối tượng xem xét không còn chỉ là giải pháp trên bản vẽ mà bao gồm phần công trình đã tồn tại trên thực tế.

Việc kiểm định khả năng chịu lực cung cấp thông tin chuyên môn về tình trạng của phần công trình đã thi công. Qua đó, hồ sơ trình thẩm định phản ánh đồng thời ba khía cạnh: quá trình thực hiện dự án, tình trạng vi phạm hành chính và tình trạng kỹ thuật của phần công trình đã xây dựng.

Ba nhóm tài liệu bổ sung này có quan hệ chặt chẽ với nhau. Báo cáo của chủ đầu tư cho biết diễn biến và hiện trạng thực hiện; biên bản, quyết định xử phạt xác định tình trạng pháp lý của vi phạm; còn báo cáo kiểm định cung cấp đánh giá chuyên môn về khả năng chịu lực. Việc tập hợp đầy đủ giúp cơ quan thẩm định có cơ sở xem xét dự án trong điều kiện thực tế đã phát sinh.

Đối với dự án sửa chữa, cải tạo, thành phần hồ sơ cũng có những yêu cầu riêng. Ngoài các tài liệu chung, hồ sơ trình thẩm định phải có hồ sơ khảo sát hiện trạng. Đây là tài liệu cần thiết để xác định tình trạng thực tế của công trình trước khi thực hiện giải pháp sửa chữa hoặc cải tạo.

Khác với công trình xây dựng mới, dự án sửa chữa, cải tạo được triển khai trên một công trình đã tồn tại. Do đó, giải pháp thiết kế phải xuất phát từ tình trạng thực tế của công trình. Hồ sơ khảo sát hiện trạng giúp phản ánh các đặc điểm đang tồn tại và tạo cơ sở cho việc xác định phạm vi, nội dung sửa chữa, cải tạo.

Trong trường hợp nội dung sửa chữa, cải tạo có liên quan đến khả năng chịu lực của công trình, hồ sơ còn phải có Báo cáo kiểm định của tổ chức kiểm định xây dựng đánh giá về khả năng chịu lực. Quy định này gắn yêu cầu kiểm định với chính nội dung can thiệp của dự án.

Nếu việc sửa chữa, cải tạo tác động hoặc có liên quan đến khả năng chịu lực, việc đánh giá tình trạng chịu lực hiện hữu trở thành cơ sở cần thiết trước khi xem xét giải pháp thiết kế. Báo cáo kiểm định giúp xác định tình trạng kỹ thuật của công trình và cung cấp dữ liệu cho việc đánh giá phương án sửa chữa, cải tạo được đề xuất.

Như vậy, khi nhìn tổng thể, hồ sơ trình thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi có thể được hiểu gồm hai tầng tài liệu. Tầng thứ nhất là những tài liệu cơ bản hình thành bộ hồ sơ chung, bao gồm Tờ trình thẩm định, cơ sở pháp lý về đầu tư, hồ sơ quy hoạch, các thỏa thuận và xác nhận có liên quan, hồ sơ khảo sát, Báo cáo nghiên cứu khả thi cùng thiết kế xây dựng và báo cáo thẩm tra nếu có. Tầng thứ hai là những tài liệu bổ sung được xác định theo tính chất riêng của dự án.

Đối với dự án có yêu cầu thi tuyển kiến trúc, phải bổ sung kết quả lựa chọn phương án. Đối với tuyến đường sắt thuộc trường hợp phải chấp thuận danh mục tiêu chuẩn, phải có văn bản chấp thuận tương ứng. Đối với các dự án thuộc trường hợp quy định của Điều 17 Luật Xây dựng năm 2025, phải bổ sung tổng mức đầu tư và dữ liệu xác định tổng mức. Đối với dự án có vi phạm hành chính về xây dựng, phải có hồ sơ về quá trình thực hiện, xử phạt và kiểm định phần công trình đã thi công. Đối với dự án sửa chữa, cải tạo, phải có khảo sát hiện trạng và báo cáo kiểm định khi nội dung sửa chữa có liên quan đến khả năng chịu lực.

Cách phân chia này cho thấy không nên chuẩn bị hồ sơ theo tư duy chỉ sử dụng một danh mục cố định. Cơ quan chuẩn bị dự án cần xác định đặc điểm của dự án trước, sau đó đối chiếu từng yêu cầu để lập danh mục tài liệu tương ứng. Một hồ sơ có đủ tài liệu đối với dự án thông thường chưa chắc đã đầy đủ đối với dự án đường sắt, dự án sửa chữa, cải tạo hoặc dự án đã phát sinh vi phạm hành chính.

Đồng thời, tính hợp lệ của hồ sơ không chỉ phụ thuộc vào số lượng tài liệu. Hồ sơ còn phải đúng quy cách, sử dụng tiếng Việt làm ngôn ngữ chính, được kiểm tra và xác nhận. Phương thức xác nhận cũng phải tương ứng với cách thức nộp hồ sơ: hồ sơ trực tiếp hoặc qua bưu chính phải có xác nhận của cơ quan chuẩn bị dự án; hồ sơ trực tuyến phải được ký chữ ký số.

Có thể hình dung việc chuẩn bị hồ sơ theo một chuỗi kiểm tra. Trước hết, xác định cơ sở pháp lý hình thành dự án để lựa chọn văn bản về chủ trương đầu tư, phê duyệt thông tin dự án hoặc giấy tờ chuyển tiếp phù hợp. Tiếp đó, kiểm tra dự án có yêu cầu thi tuyển kiến trúc hay không, xác định hồ sơ quy hoạch làm căn cứ lập dự án và tập hợp các văn bản đấu nối, chấp thuận độ cao hoặc tài liệu pháp lý khác nếu có.

Sau đó cần hoàn thiện hồ sơ khảo sát xây dựng đã được phê duyệt, Báo cáo nghiên cứu khả thi gồm thuyết minh và thiết kế xây dựng, cùng báo cáo thẩm tra thiết kế nếu có. Tiếp theo là kiểm tra các yêu cầu chuyên biệt như chấp thuận danh mục tiêu chuẩn đối với tuyến đường sắt, tài liệu xác định tổng mức đầu tư, hồ sơ xử lý vi phạm hành chính hoặc hồ sơ khảo sát hiện trạng và kiểm định đối với dự án sửa chữa, cải tạo.

Cuối cùng, trước khi trình, cơ quan chuẩn bị dự án cần kiểm tra lại toàn bộ thành phần, quy cách, ngôn ngữ và xác nhận hồ sơ theo phương thức nộp. Việc kiểm tra này có ý nghĩa quan trọng bởi hồ sơ chỉ được xem là hợp lệ khi đáp ứng các điều kiện được đặt ra, chứ không chỉ khi đã có Báo cáo nghiên cứu khả thi.

Đối với Hội đồng thẩm định, yêu cầu về hồ sơ đầy đủ còn có ý nghĩa đặc biệt vì thành viên Hội đồng đến từ nhiều cơ quan và lĩnh vực khác nhau. Hồ sơ do Cơ quan thường trực tiếp nhận sau đó được gửi đến các thành viên và cơ quan liên quan để nghiên cứu. Nếu các tài liệu pháp lý, kỹ thuật hoặc chuyên ngành thiếu tính thống nhất, quá trình phân công và lấy ý kiến có thể gặp khó khăn.

Tương tự, đối với cơ quan chuyên môn về xây dựng, một bộ hồ sơ được chuẩn bị có hệ thống giúp việc kiểm tra và tổ chức thẩm định được thực hiện trên cơ sở rõ ràng. Tờ trình xác định yêu cầu thẩm định; tài liệu pháp lý xác định cơ sở đầu tư; hồ sơ quy hoạch thể hiện căn cứ không gian; khảo sát cung cấp dữ liệu đầu vào; Báo cáo nghiên cứu khả thi trình bày phương án đầu tư; thiết kế xây dựng cụ thể hóa giải pháp; còn các tài liệu chuyên biệt giải quyết những yêu cầu riêng của từng dự án.

Nhìn tổng thể, yêu cầu đối với hồ sơ trình thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi thể hiện nguyên tắc hồ sơ phải vừa đầy đủ về pháp lý, vừa đủ cơ sở về kỹ thuật và phải phản ánh đúng trạng thái thực tế của dự án. Đối với dự án chưa triển khai, trọng tâm là cơ sở đầu tư, quy hoạch, khảo sát và thiết kế. Đối với dự án đã phát sinh thi công và vi phạm, hồ sơ phải phản ánh thêm hiện trạng và khả năng chịu lực. Đối với công trình hiện hữu được sửa chữa, cải tạo, khảo sát hiện trạng và kiểm định khi cần thiết trở thành những tài liệu bổ sung quan trọng.

Việc phân biệt từng trường hợp cũng giúp tránh hai khuynh hướng không phù hợp trong chuẩn bị hồ sơ. Một là thiếu tài liệu do chỉ áp dụng danh mục chung mà bỏ qua yêu cầu riêng của dự án. Hai là đưa quá nhiều tài liệu không liên quan vào hồ sơ mà không xác định rõ căn cứ và mục đích sử dụng. Cách phù hợp là đối chiếu từng thành phần với tình trạng pháp lý, loại hình và nội dung cụ thể của dự án.

Tóm lại, hồ sơ trình thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi tại cơ quan chuyên môn về xây dựng hoặc Hội đồng thẩm định là một hệ thống tài liệu được tổ chức từ cơ sở pháp lý của dự án đến các hồ sơ chuyên môn phục vụ việc đánh giá. Một hồ sơ chỉ được coi là hợp lệ khi có đầy đủ thành phần theo quy định, đúng quy cách, sử dụng tiếng Việt làm ngôn ngữ chính và được cơ quan chuẩn bị dự án kiểm tra, xác nhận; đối với hồ sơ trực tuyến phải có chữ ký số theo quy định. Thành phần cơ bản gồm Tờ trình thẩm định theo Mẫu số 01 Phụ lục I, hồ sơ Báo cáo nghiên cứu khả thi, các văn bản về chủ trương hoặc cơ sở pháp lý của dự án, tài liệu quy hoạch, thỏa thuận đấu nối và các chấp thuận liên quan, hồ sơ khảo sát được phê duyệt, phần thuyết minh và thiết kế xây dựng của Báo cáo nghiên cứu khả thi cùng báo cáo thẩm tra nếu có. Tùy trường hợp, hồ sơ còn phải bổ sung văn bản về phương án kiến trúc, chấp thuận danh mục tiêu chuẩn đường sắt, tổng mức đầu tư và dữ liệu xác định tổng mức, tài liệu về vi phạm hành chính và kiểm định công trình hoặc hồ sơ khảo sát hiện trạng đối với dự án sửa chữa, cải tạo. Việc chuẩn bị đầy đủ và thống nhất các tài liệu này tạo cơ sở để cơ quan chuyên môn về xây dựng hoặc Hội đồng thẩm định tổ chức xem xét Báo cáo nghiên cứu khả thi đúng phạm vi, đồng thời giúp quá trình thẩm định được tiến hành trên một bộ hồ sơ phản ánh đầy đủ cơ sở pháp lý, điều kiện kỹ thuật và tình trạng thực tế của dự án.

 

CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ & THIẾT KẾ XÂY DỰNG MINH PHƯƠNG

Địa chỉ: Số 28B Mai Thị Lựu, Phường Đa Kao, Q.1, TPHCM

Hotline:  0903649782 - (028) 3514 6426

Email: nguyenthanhmp156@gmail.com

 


Tin tức liên quan

Quy trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng
Quy trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng

78 Lượt xem

Quy trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng

Hướng dẫn lập dự án đầu tư xây dựng theo quy định mới
Hướng dẫn lập dự án đầu tư xây dựng theo quy định mới

70 Lượt xem

Hướng dẫn lập dự án đầu tư xây dựng theo quy định mới

Giấy phép xây dựng cho toàn bộ công trình thuộc dự án
Giấy phép xây dựng cho toàn bộ công trình thuộc dự án

129 Lượt xem

Xin giấy phép cho toàn bộ công trình thuộc dự án

Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới
Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới

116 Lượt xem

Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới

Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng
Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng

108 Lượt xem

Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng

Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng
Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng

97 Lượt xem

Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng


Bình luận
  • Đánh giá của bạn
Đã thêm vào giỏ hàng