Hội đồng thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi

Hội đồng thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi là một cơ chế tổ chức thẩm định đặc thù

Hội đồng thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi là một cơ chế tổ chức thẩm định đặc thù được thành lập đối với những dự án thuộc trường hợp pháp luật quy định, nhằm thực hiện vai trò thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi của cơ quan chuyên môn về xây dựng. Nếu trong cơ chế thông thường, hoạt động thẩm định chủ yếu được tổ chức thông qua cơ quan chuyên môn có thẩm quyền thì đối với những dự án thuộc trường hợp cần thành lập Hội đồng, quá trình xem xét được thực hiện theo mô hình tập thể, có sự tham gia của nhiều cơ quan, đơn vị và cá nhân có chuyên môn liên quan. Cách tổ chức này cho phép các vấn đề của dự án được xem xét từ nhiều góc độ, đồng thời tạo ra cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chuyên môn, các bộ, ngành liên quan và, khi cần thiết, các tổ chức tư vấn, chuyên gia.

Hội đồng thẩm định không phải là một tổ chức tồn tại thường xuyên mà được thành lập để thực hiện nhiệm vụ gắn với dự án cụ thể. Từ thời điểm được thành lập cho đến khi hoàn thành Thông báo kết quả thẩm định, Hội đồng hoạt động theo một trình tự gồm tổ chức bộ máy, xây dựng quy chế, tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ, xây dựng kế hoạch thẩm định, phân công nhiệm vụ, tổ chức xem xét hồ sơ, lấy ý kiến, họp và biểu quyết, thông qua kết luận, tổng hợp kết quả và ban hành Thông báo kết quả thẩm định. Sau khi nhiệm vụ này hoàn thành, Hội đồng tự giải thể. Có thể xem đây là một vòng đời hoàn chỉnh của Hội đồng thẩm định, bắt đầu từ quyết định thành lập và kết thúc khi sản phẩm cuối cùng của quá trình thẩm định được ban hành.

Theo quy định, Hội đồng thẩm định do Bộ trưởng bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập đối với dự án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 33 của Nghị định. Hội đồng được thành lập để thực hiện vai trò thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi của cơ quan chuyên môn về xây dựng. Như vậy, việc thành lập Hội đồng phải gắn với đúng đối tượng dự án và đúng chủ thể có thẩm quyền, không phải mọi dự án lập Báo cáo nghiên cứu khả thi đều tổ chức thẩm định thông qua Hội đồng.

Việc thành lập Hội đồng được thực hiện trên cơ sở đề xuất của cơ quan chuyên môn về xây dựng. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ trình thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi theo Điều 36 của Nghị định, cơ quan chuyên môn về xây dựng thực hiện việc đề xuất thành lập Hội đồng. Quy định về thời hạn giúp xác định rõ trách nhiệm của cơ quan chuyên môn ngay từ giai đoạn đầu, tránh tình trạng hồ sơ đã được tiếp nhận nhưng việc tổ chức bộ máy thẩm định bị kéo dài.

Mốc 07 ngày làm việc cần được hiểu gắn với việc tiếp nhận hồ sơ trình thẩm định. Trong khoảng thời gian này, cơ quan chuyên môn về xây dựng phải thực hiện trách nhiệm đề xuất thành lập Hội đồng đối với dự án thuộc trường hợp áp dụng. Sau đó, Bộ trưởng hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét việc thành lập Hội đồng theo thẩm quyền.

Tuy nhiên, cơ chế thành lập Hội đồng không chỉ được thực hiện sau khi Báo cáo nghiên cứu khả thi đã được hoàn thiện và trình thẩm định. Tùy theo yêu cầu của dự án, Bộ trưởng hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể quyết định thành lập Hội đồng sau khi dự án đã có Quyết định chủ trương đầu tư. Việc thành lập sớm nhằm thực hiện một số công tác phục vụ thẩm định đồng thời với quá trình lập Báo cáo nghiên cứu khả thi.

Quy định này tạo ra khả năng tổ chức công việc theo hướng song song thay vì hoàn toàn tuần tự. Đối với những dự án có yêu cầu, một số công việc phục vụ thẩm định có thể được triển khai trong thời gian Báo cáo nghiên cứu khả thi đang được lập. Nhờ đó, Hội đồng và Cơ quan thường trực có điều kiện chuẩn bị những nội dung cần thiết trước khi hồ sơ chính thức hoàn thiện. Tuy nhiên, đây là cơ chế áp dụng theo yêu cầu của dự án và thuộc quyền quyết định của Bộ trưởng hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Về cơ cấu, Hội đồng thẩm định gồm Chủ tịch Hội đồng, Phó Chủ tịch Hội đồng và các thành viên khác. Cơ cấu này hình thành ba thành phần cơ bản: bộ phận điều hành, các thành viên tham gia thẩm định và Cơ quan thường trực giúp tổ chức hoạt động của Hội đồng.

Chủ tịch Hội đồng là lãnh đạo bộ hoặc lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Việc bố trí lãnh đạo của cơ quan thành lập Hội đồng giữ vai trò Chủ tịch bảo đảm quá trình thẩm định có một đầu mối điều hành rõ ràng. Chủ tịch Hội đồng điều hành chế độ làm việc tập thể, quyết định ban hành quy chế hoạt động và có vai trò quan trọng trong quá trình xem xét, thống nhất các vấn đề thuộc phạm vi của Hội đồng.

Thành viên Hội đồng được xác định tùy theo cấp thành lập. Đối với Hội đồng do Bộ trưởng bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành thành lập, thành viên gồm đại diện các cơ quan chuyên môn trực thuộc bộ và đại diện các bộ, ngành có liên quan. Đối với Hội đồng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập, thành viên gồm đại diện các cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và đại diện các bộ, ngành có liên quan.

Cách bố trí này cho thấy thành phần Hội đồng không chỉ giới hạn trong hệ thống cơ quan xây dựng. Một Báo cáo nghiên cứu khả thi có thể liên quan đến nhiều vấn đề thuộc các lĩnh vực quản lý khác nhau. Việc đưa đại diện các cơ quan chuyên môn và bộ, ngành có liên quan vào Hội đồng giúp quá trình thẩm định có điều kiện tiếp nhận ý kiến từ những lĩnh vực tương ứng.

Ngoài thành phần cơ bản, tùy theo yêu cầu của dự án, Bộ trưởng hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể quyết định mời đại diện của các bộ, ngành, cơ quan có liên quan, tổ chức tư vấn và các chuyên gia tham gia làm thành viên Hội đồng. Đây là cơ chế mở nhằm bảo đảm thành phần Hội đồng có thể được bổ sung phù hợp với tính chất và yêu cầu chuyên môn của từng dự án.

Đối với dự án có những nội dung chuyên môn đặc thù, sự tham gia của chuyên gia hoặc tổ chức tư vấn có thể bổ sung góc nhìn chuyên sâu cho quá trình thẩm định. Tuy nhiên, các tổ chức tư vấn và chuyên gia chỉ trở thành thành viên Hội đồng khi được chủ thể có thẩm quyền quyết định mời theo yêu cầu của dự án.

Một mắt xích đặc biệt quan trọng trong cơ cấu của Hội đồng là Cơ quan thường trực. Cơ quan chuyên môn về xây dựng trực thuộc theo chuyên ngành quản lý của dự án được xác định là Cơ quan thường trực Hội đồng. Nếu Hội đồng là chủ thể tập thể thực hiện hoạt động thẩm định thì Cơ quan thường trực là đầu mối tổ chức, điều phối và xử lý các công việc phục vụ cho hoạt động tập thể đó.

Nhiệm vụ đầu tiên của Cơ quan thường trực là xây dựng quy chế hoạt động của Hội đồng. Quy chế được xây dựng trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của cơ quan cử thành viên tham gia Hội đồng và trình Chủ tịch Hội đồng quyết định ban hành. Đây là cơ sở tổ chức nội bộ đặc biệt quan trọng bởi Hội đồng tập hợp thành viên đến từ nhiều cơ quan khác nhau.

Quy chế giúp xác định cách thức làm việc, trách nhiệm và sự phối hợp giữa các thành viên. Do mỗi thành viên đồng thời đại diện cho cơ quan có chức năng, nhiệm vụ riêng, quy chế hoạt động cần được xây dựng trên cơ sở những chức năng đó để việc phân công không tách rời phạm vi chuyên môn của từng cơ quan.

Cơ quan thường trực đồng thời giúp Chủ tịch Hội đồng tổ chức công việc thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi và các hoạt động chung của Hội đồng. Đây là nhiệm vụ có phạm vi rộng, bao gồm các công việc tổ chức cần thiết để Hội đồng có thể vận hành theo đúng kế hoạch.

Trong quá trình thẩm định, Cơ quan thường trực thực hiện việc phối hợp với các cơ quan liên quan và tư vấn thẩm tra để triển khai các công việc phục vụ thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi. Việc phối hợp này giúp tập hợp thông tin và kết quả chuyên môn cần thiết trước khi Hội đồng xem xét, thảo luận và đưa ra kết luận.

Một trong những nhiệm vụ trực tiếp và quan trọng của Cơ quan thường trực là tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ trình thẩm định. Sau khi tiếp nhận, Cơ quan thường trực gửi hồ sơ đến các thành viên Hội đồng và các cơ quan, đơn vị có liên quan. Việc tập trung hồ sơ tại một đầu mối giúp quá trình phân phối tài liệu được thực hiện thống nhất và bảo đảm các thành viên có cơ sở nghiên cứu.

Kiểm tra hồ sơ cũng là bước cần thiết trước khi đi sâu vào nội dung thẩm định. Cơ quan thường trực cần nắm được thành phần tài liệu được trình để tổ chức việc chuyển hồ sơ, xây dựng kế hoạch và phân công công việc phù hợp.

Sau khi hồ sơ được tiếp nhận, Cơ quan thường trực xây dựng kế hoạch thẩm định. Kế hoạch này là cơ sở tổ chức tiến trình làm việc của Hội đồng, xác định những công việc cần triển khai và tạo cơ sở để phân công nhiệm vụ cho các thành viên.

Việc phân công phải gắn với các nội dung thẩm định theo Điều 38 của Nghị định. Tùy theo chức năng của cơ quan mà thành viên đại diện và chuyên môn của từng người, Cơ quan thường trực tổ chức phân công để các nội dung của Báo cáo nghiên cứu khả thi được xem xét phù hợp.

Cách tổ chức này thể hiện nguyên tắc vừa làm việc tập thể vừa phân công chuyên môn. Hội đồng đưa ra kết luận với tư cách tập thể nhưng quá trình hình thành kết luận được xây dựng trên cơ sở các thành viên thực hiện những nhiệm vụ cụ thể. Nhờ đó, trách nhiệm nghiên cứu từng nhóm nội dung được xác định thay vì tất cả thành viên cùng xử lý toàn bộ hồ sơ theo cách không phân công.

Trong quá trình thẩm định, Cơ quan thường trực còn đóng vai trò kết nối giữa Hội đồng với cơ quan chuẩn bị dự án, tư vấn thẩm tra và các cơ quan liên quan. Các ý kiến và kết quả chuyên môn sau khi được hình thành cần được tập hợp, hệ thống hóa để Hội đồng có thể xem xét trên một cơ sở thống nhất.

Khi quá trình thẩm định hoàn thành, Cơ quan thường trực có nhiệm vụ tổng hợp kết quả thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi. Tuy nhiên, việc ban hành kết quả phải được thực hiện sau khi có kết luận của Hội đồng. Điều này cho thấy Cơ quan thường trực không tự mình quyết định kết quả cuối cùng mà có trách nhiệm chuyển hóa kết luận tập thể của Hội đồng thành văn bản chính thức.

Sau khi có kết luận, Cơ quan thường trực ban hành văn bản Thông báo kết quả thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi. Đây là sản phẩm quan trọng đánh dấu việc hoàn thành quá trình thẩm định của Hội đồng.

Cùng với việc ban hành Thông báo kết quả thẩm định, Cơ quan thường trực thực hiện đóng dấu xác nhận trên các bản vẽ thiết kế xây dựng có liên quan theo khoản 8 Điều 36 của Nghị định. Việc xác nhận bản vẽ tạo sự liên kết giữa kết quả thẩm định và tài liệu thiết kế thuộc hồ sơ đã được xem xét.

Ngoài những nhiệm vụ cụ thể nêu trên, Cơ quan thường trực còn phải thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch Hội đồng giao. Quy định này tạo ra sự linh hoạt cần thiết để Chủ tịch có thể giao xử lý những công việc phát sinh trong quá trình thẩm định phù hợp với vai trò của Cơ quan thường trực.

Để thực hiện chức năng thẩm định, Hội đồng cũng được trao các quyền hạn tương ứng. Trước hết, Hội đồng có quyền xem xét và quyết định các vấn đề về nội dung, chương trình và kế hoạch công tác của Hội đồng, Cơ quan thường trực cũng như các vấn đề có liên quan trong quá trình thẩm định dự án.

Quyền này bảo đảm Hội đồng không chỉ thụ động thực hiện một kế hoạch có sẵn mà có thể xem xét và quyết định cách thức tổ chức công việc phù hợp với tình hình thực tế của dự án. Khi phát sinh vấn đề cần điều chỉnh về nội dung hoặc chương trình thẩm định, Hội đồng có cơ sở để xem xét trong phạm vi quyền hạn.

Một quyền hạn quan trọng khác là yêu cầu cung cấp tài liệu. Hội đồng được yêu cầu cơ quan chuẩn bị dự án, tổ chức tư vấn và các cơ quan có liên quan cung cấp những tài liệu cần thiết trong quá trình cho ý kiến và thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi.

Quyền yêu cầu tài liệu có ý nghĩa trực tiếp đối với chất lượng thẩm định. Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, thành viên Hội đồng có thể nhận thấy một vấn đề chưa được giải trình rõ hoặc tài liệu chưa đủ để đưa ra nhận định. Khi đó, Hội đồng có cơ sở yêu cầu bổ sung thông tin để phục vụ việc đánh giá.

Về hình thức tổ chức thẩm định, pháp luật cho phép Hội đồng lựa chọn giữa nhiều phương thức. Hội đồng có thể tổ chức phiên họp Hội đồng thẩm định, tổ chức cuộc họp thẩm định hoặc lấy ý kiến thẩm định bằng văn bản. Các hình thức này có thể được sử dụng phù hợp với yêu cầu của quá trình xem xét hồ sơ.

Phiên họp hoặc cuộc họp tạo điều kiện cho các thành viên trao đổi trực tiếp, thảo luận những nội dung còn có ý kiến khác nhau và làm rõ vấn đề ngay trong quá trình làm việc. Trong khi đó, việc lấy ý kiến bằng văn bản cho phép thành viên nghiên cứu hồ sơ và gửi ý kiến chính thức mà không nhất thiết mọi nội dung đều phải được xử lý thông qua một cuộc họp trực tiếp.

Dù áp dụng hình thức nào, Hội đồng vẫn hoạt động theo chế độ tập thể dưới sự điều hành của Chủ tịch Hội đồng. Đây là nguyên tắc xuyên suốt, bảo đảm kết quả thẩm định không trở thành ý chí riêng của một cá nhân hoặc một cơ quan thành viên.

Đối với phiên họp Hội đồng, điều kiện đầu tiên để phiên họp được coi là hợp lệ là phải có ít nhất 50% số thành viên tham dự, kể cả người được ủy quyền. Quy định này xác định mức tham gia tối thiểu cần thiết để một phiên họp có giá trị trong hoạt động của Hội đồng.

Việc tính cả người được ủy quyền trong số thành viên tham dự cho phép duy trì khả năng hoạt động của Hội đồng trong trường hợp thành viên không thể trực tiếp tham gia nhưng có người được ủy quyền theo cơ chế tương ứng. Tuy nhiên, dù tham gia trực tiếp hay thông qua người được ủy quyền, tổng số người tham dự vẫn phải đạt ít nhất một nửa số thành viên.

Đối với các ý kiến kết luận, nguyên tắc chung là thống nhất theo đa số. Khi các thành viên có quan điểm khác nhau, kết quả biểu quyết được sử dụng để xác định ý kiến chung. Nguyên tắc đa số giúp Hội đồng có khả năng đi đến kết luận ngay cả khi không đạt được sự đồng thuận tuyệt đối giữa tất cả thành viên.

Pháp luật đồng thời dự liệu trường hợp tỷ lệ biểu quyết bằng nhau. Khi tỷ lệ biểu quyết bằng nhau và đạt 50% số thành viên Hội đồng, bao gồm cả số thành viên có mặt tại phiên họp và số thành viên biểu quyết bằng văn bản gửi đến Hội đồng, vấn đề được thông qua theo ý kiến đã biểu quyết của Chủ tịch Hội đồng.

Quy định này trao cho Chủ tịch vai trò giải quyết tình huống cân bằng trong biểu quyết. Chủ tịch không đơn phương quyết định thay Hội đồng ngay từ đầu mà ý kiến của Chủ tịch chỉ có vai trò quyết định khi xuất hiện tình huống biểu quyết ngang nhau đáp ứng điều kiện được quy định.

Tuy nhiên, đối với kết luận cuối cùng thông qua các nội dung thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi, pháp luật đặt ra ngưỡng cao hơn. Kết luận cuối cùng phải được ít nhất hai phần ba số thành viên Hội đồng thẩm định thông qua.

Sự khác biệt giữa nguyên tắc đa số đối với các ý kiến kết luận trong quá trình làm việc và yêu cầu hai phần ba đối với kết luận cuối cùng cần được nhận diện rõ. Kết luận cuối cùng là cơ sở trực tiếp để Cơ quan thường trực tổng hợp và ban hành Thông báo kết quả thẩm định, vì vậy mức độ đồng thuận được yêu cầu cao hơn.

Ý kiến của thành viên Hội đồng có thể được thể hiện bằng cách biểu quyết trực tiếp tại cuộc họp hoặc bằng văn bản gửi đến Hội đồng. Cơ chế này cho phép kết hợp giữa hình thức họp và hình thức lấy ý kiến bằng văn bản trong quá trình xác lập ý kiến tập thể.

Nếu hệ thống hóa cơ chế làm việc, có thể thấy hoạt động biểu quyết của Hội đồng được kiểm soát bởi ba mốc quan trọng. Mốc thứ nhất là tỷ lệ tham dự tối thiểu 50% để phiên họp hợp lệ. Mốc thứ hai là nguyên tắc đa số đối với các ý kiến kết luận và cơ chế xử lý trường hợp biểu quyết ngang nhau. Mốc thứ ba là tỷ lệ ít nhất hai phần ba số thành viên để thông qua kết luận cuối cùng về các nội dung thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi.

Các mốc này không nên được đồng nhất với nhau. Việc một phiên họp có đủ 50% thành viên tham dự chỉ có nghĩa phiên họp đáp ứng điều kiện hợp lệ. Điều đó không đồng nghĩa kết luận cuối cùng của Báo cáo nghiên cứu khả thi đã đủ điều kiện được thông qua. Để kết luận cuối cùng có thể được thông qua, vẫn phải đáp ứng tỷ lệ ít nhất hai phần ba số thành viên Hội đồng theo quy định.

Cùng với quyền hạn, Hội đồng phải chịu trách nhiệm đối với quá trình và kết quả thẩm định. Hội đồng chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về việc tổ chức thẩm định theo nhiệm vụ được giao. Đây là trách nhiệm đối với toàn bộ quá trình hoạt động kể từ khi Hội đồng được thành lập cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ.

Hội đồng còn chịu trách nhiệm về nội dung ý kiến, kết quả thẩm định, kết luận và kiến nghị được đưa ra theo quy chế hoạt động. Như vậy, trách nhiệm không chỉ dừng lại ở việc tổ chức họp đúng trình tự mà còn bao gồm chất lượng và nội dung của sản phẩm thẩm định.

Việc làm việc theo chế độ tập thể không làm mất đi trách nhiệm của Hội đồng. Ngược lại, kết quả được hình thành từ cơ chế tập thể phải được Hội đồng chịu trách nhiệm với tư cách tổ chức được thành lập để thực hiện nhiệm vụ thẩm định.

Sau khi Hội đồng đã hoàn thành quá trình xem xét và kết luận, Cơ quan thường trực tổng hợp kết quả, ban hành Thông báo kết quả thẩm định và thực hiện các công việc liên quan. Khi Cơ quan thường trực hoàn thành việc Thông báo kết quả thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án, Hội đồng tự giải thể.

Quy định về tự giải thể làm rõ tính chất theo nhiệm vụ của Hội đồng. Hội đồng không tiếp tục tồn tại sau khi mục tiêu thành lập đã hoàn thành. Không cần một quyết định duy trì hoạt động thường xuyên cho các dự án khác, bởi mỗi Hội đồng được tổ chức gắn với nhiệm vụ thẩm định cụ thể.

Nhìn từ toàn bộ quy trình, hoạt động của Hội đồng có thể chia thành các giai đoạn liên tục. Giai đoạn đầu tiên là hình thành Hội đồng. Cơ quan chuyên môn về xây dựng đề xuất thành lập trong thời hạn quy định hoặc Hội đồng được thành lập sớm sau quyết định chủ trương đầu tư khi dự án có yêu cầu. Tiếp theo là kiện toàn thành phần Hội đồng và xác định Cơ quan thường trực.

Giai đoạn thứ hai là tổ chức công việc. Cơ quan thường trực xây dựng quy chế, tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ, chuyển tài liệu cho các thành viên, xây dựng kế hoạch và phân công nhiệm vụ. Đây là giai đoạn tạo nền tảng để hoạt động chuyên môn của Hội đồng được triển khai có trật tự.

Giai đoạn thứ ba là thực hiện thẩm định. Thành viên Hội đồng nghiên cứu hồ sơ theo nhiệm vụ được phân công; Hội đồng phối hợp với các cơ quan liên quan, tư vấn thẩm tra khi cần thiết; yêu cầu cơ quan chuẩn bị dự án, tổ chức tư vấn và cơ quan liên quan cung cấp tài liệu; đồng thời tổ chức họp hoặc lấy ý kiến bằng văn bản.

Giai đoạn thứ tư là hình thành kết luận. Các ý kiến được tổng hợp và xử lý theo nguyên tắc tập thể, đa số và tỷ lệ biểu quyết tương ứng. Đối với kết luận cuối cùng, yêu cầu ít nhất hai phần ba số thành viên Hội đồng thông qua phải được đáp ứng.

Giai đoạn cuối cùng là hoàn thiện kết quả. Cơ quan thường trực căn cứ kết luận của Hội đồng để tổng hợp và ban hành Thông báo kết quả thẩm định, đồng thời đóng dấu xác nhận trên các bản vẽ thiết kế xây dựng có liên quan theo quy định. Khi Thông báo kết quả thẩm định đã được hoàn thành, Hội đồng tự giải thể.

Toàn bộ chu trình này cho thấy Hội đồng thẩm định là một cơ chế có sự phân định tương đối rõ giữa quyền quyết định tập thể và nhiệm vụ tổ chức thực hiện. Hội đồng quyết định những vấn đề thuộc nội dung, chương trình, kế hoạch và kết luận thẩm định; Chủ tịch điều hành hoạt động chung; Cơ quan thường trực thực hiện vai trò tổ chức, phối hợp và tổng hợp; các thành viên thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và biểu quyết; cơ quan chuẩn bị dự án cùng các tổ chức liên quan có trách nhiệm cung cấp tài liệu khi Hội đồng yêu cầu.

Sự phân công đó giúp Hội đồng vừa duy trì tính tập thể vừa có một đầu mối thường trực để tổ chức công việc. Nếu chỉ có cơ chế tập thể mà không có Cơ quan thường trực, việc xử lý hồ sơ và phối hợp giữa nhiều thành viên có thể trở nên phân tán. Ngược lại, nếu toàn bộ quyền quyết định tập trung vào Cơ quan thường trực thì sẽ không còn đúng với bản chất của mô hình Hội đồng. Vì vậy, hai bộ phận này bổ trợ cho nhau trong cùng một quy trình.

Có thể thấy giá trị cốt lõi của cơ chế Hội đồng nằm ở khả năng tập hợp nhiều chủ thể chuyên môn nhưng vẫn duy trì một trình tự ra quyết định thống nhất. Các ý kiến khác nhau được đưa vào cùng một quá trình xem xét; những vấn đề cần thảo luận được giải quyết thông qua cuộc họp; những nội dung phù hợp có thể lấy ý kiến bằng văn bản; và kết quả cuối cùng phải đạt tỷ lệ đồng thuận đủ lớn trước khi được ban hành.

Đối với cơ quan chuẩn bị dự án và tổ chức tư vấn, cơ chế này đồng thời đặt ra yêu cầu về chất lượng hồ sơ. Khi Hội đồng có quyền yêu cầu cung cấp thêm tài liệu, các vấn đề chưa rõ trong Báo cáo nghiên cứu khả thi có thể phải được giải trình hoặc bổ sung trong quá trình thẩm định. Do đó, hồ sơ càng được chuẩn bị đầy đủ, có tính thống nhất và làm rõ các vấn đề cần thiết thì quá trình làm việc với Hội đồng càng có cơ sở thuận lợi.

Từ góc độ tổ chức quản lý, việc cho phép thành lập Hội đồng ngay sau khi có quyết định chủ trương đầu tư trong trường hợp cần thiết còn tạo điều kiện để quá trình chuẩn bị thẩm định không bị tách rời hoàn toàn khỏi quá trình lập Báo cáo nghiên cứu khả thi. Một số công việc có thể được triển khai song song, qua đó giúp Hội đồng sớm tiếp cận những vấn đề cần quan tâm của dự án.

Tuy nhiên, dù được thành lập ở thời điểm nào, kết quả cuối cùng vẫn phải được hình thành thông qua đúng cơ chế tập thể và tỷ lệ biểu quyết. Việc chuẩn bị sớm không làm thay đổi nguyên tắc thông qua kết luận hoặc trách nhiệm của Hội đồng.

Như vậy, Hội đồng thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi có thể được hiểu là một thiết chế thẩm định theo dự án, được hình thành để tập hợp năng lực quản lý và chuyên môn của nhiều chủ thể trong một cơ chế thống nhất. Hội đồng có một điểm bắt đầu rõ ràng là quyết định thành lập, có cơ cấu tổ chức cụ thể, có Cơ quan thường trực, có quyền yêu cầu cung cấp thông tin, có phương thức làm việc và biểu quyết, có trách nhiệm đối với kết quả và có thời điểm chấm dứt hoạt động được xác định.

Tóm lại, Hội đồng thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi được thành lập bởi Bộ trưởng bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với những dự án thuộc trường hợp pháp luật quy định, nhằm thực hiện vai trò thẩm định của cơ quan chuyên môn về xây dựng. Việc thành lập được thực hiện theo đề xuất của cơ quan chuyên môn về xây dựng trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận hồ sơ hoặc có thể được quyết định sớm sau khi dự án có quyết định chủ trương đầu tư nếu yêu cầu của dự án đòi hỏi. Hội đồng gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên; có thể có sự tham gia của cơ quan chuyên môn, bộ, ngành, tổ chức tư vấn và chuyên gia; trong đó cơ quan chuyên môn về xây dựng theo chuyên ngành quản lý của dự án là Cơ quan thường trực. Cơ quan thường trực chịu trách nhiệm xây dựng quy chế, tổ chức công việc, tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ, lập kế hoạch, phân công nhiệm vụ, phối hợp với các chủ thể liên quan, tổng hợp kết quả, ban hành Thông báo kết quả thẩm định và xác nhận các bản vẽ có liên quan. Hội đồng có quyền quyết định nội dung, chương trình, kế hoạch công tác và yêu cầu cung cấp tài liệu; có thể thẩm định thông qua họp hoặc lấy ý kiến bằng văn bản; làm việc theo chế độ tập thể dưới sự điều hành của Chủ tịch. Phiên họp hợp lệ khi có ít nhất 50% số thành viên tham dự, các ý kiến kết luận được thống nhất theo nguyên tắc đa số, trường hợp biểu quyết ngang nhau được xử lý theo ý kiến biểu quyết của Chủ tịch theo điều kiện quy định, còn kết luận cuối cùng phải được ít nhất hai phần ba số thành viên Hội đồng thông qua. Hội đồng chịu trách nhiệm về tổ chức thẩm định, nội dung ý kiến, kết quả, kết luận và kiến nghị của mình và tự giải thể sau khi Cơ quan thường trực hoàn thành Thông báo kết quả thẩm định. Qua đó, toàn bộ cơ chế Hội đồng hình thành một quy trình thẩm định tập thể có tổ chức, có phân công, có phối hợp, có nguyên tắc biểu quyết và có trách nhiệm rõ ràng đối với Báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án.

 

CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ & THIẾT KẾ XÂY DỰNG MINH PHƯƠNG

Địa chỉ: Số 28B Mai Thị Lựu, Phường Đa Kao, Q.1, TPHCM

Hotline:  0903649782 - (028) 3514 6426

Email: nguyenthanhmp156@gmail.com

 


Tin tức liên quan

Quy trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng
Quy trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng

78 Lượt xem

Quy trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng

Hướng dẫn lập dự án đầu tư xây dựng theo quy định mới
Hướng dẫn lập dự án đầu tư xây dựng theo quy định mới

70 Lượt xem

Hướng dẫn lập dự án đầu tư xây dựng theo quy định mới

Giấy phép xây dựng cho toàn bộ công trình thuộc dự án
Giấy phép xây dựng cho toàn bộ công trình thuộc dự án

129 Lượt xem

Xin giấy phép cho toàn bộ công trình thuộc dự án

Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới
Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới

116 Lượt xem

Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới

Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng
Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng

108 Lượt xem

Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng

Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng
Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng

97 Lượt xem

Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng


Bình luận
  • Đánh giá của bạn
Đã thêm vào giỏ hàng