KHẢO SÁT XÂY DỰNG

KHẢO SÁT XÂY DỰNG

KHẢO SÁT XÂY DỰNG

Khảo sát xây dựng là một trong những hoạt động tạo lập dữ liệu đầu vào quan trọng cho quá trình chuẩn bị dự án, thiết kế, thi công, sửa chữa, cải tạo, mở rộng và nâng cấp công trình. Những quyết định về vị trí, giải pháp kiến trúc, kết cấu, nền móng, công nghệ, hệ thống kỹ thuật hoặc biện pháp thi công đều có thể chịu ảnh hưởng trực tiếp từ điều kiện thực tế của khu vực xây dựng. Vì vậy, chất lượng khảo sát không chỉ được đánh giá thông qua số lượng số liệu thu thập được mà quan trọng hơn là các số liệu đó có phản ánh đúng điều kiện thực tế, có được thu thập theo phương pháp phù hợp và có đáp ứng đúng nhu cầu của bước thiết kế hoặc thi công hay không. Chính vì vậy, công tác khảo sát xây dựng phải được quản lý theo một chuỗi thống nhất từ xác định nhu cầu khảo sát, lập nhiệm vụ, xây dựng phương án kỹ thuật, tổ chức thực hiện và giám sát, xử lý các yếu tố bất thường, lập Báo cáo kết quả, phê duyệt và cuối cùng là lưu trữ hồ sơ.

Trình tự thực hiện khảo sát xây dựng được hình thành qua bốn giai đoạn chính. Giai đoạn thứ nhất là lập và phê duyệt nhiệm vụ khảo sát xây dựng. Giai đoạn thứ hai là lập và phê duyệt phương án kỹ thuật khảo sát. Giai đoạn thứ ba là thực hiện khảo sát xây dựng. Giai đoạn cuối cùng là nghiệm thu và phê duyệt kết quả khảo sát.

Bốn giai đoạn này tạo thành một chuỗi có tính kế thừa. Không nên hiểu đây chỉ là bốn thủ tục hành chính nối tiếp nhau. Mỗi giai đoạn giải quyết một nhóm vấn đề khác nhau và kết quả của giai đoạn trước là cơ sở để thực hiện giai đoạn sau.

Nhiệm vụ khảo sát xác định “cần khảo sát những gì và nhằm mục đích gì”. Phương án kỹ thuật xác định “sẽ khảo sát bằng cách nào”. Quá trình thực hiện khảo sát tạo ra dữ liệu thực tế. Báo cáo kết quả khảo sát chuyển dữ liệu đó thành thông tin kỹ thuật có thể sử dụng cho thiết kế và thi công.

Nếu nhiệm vụ khảo sát không đúng thì dù nhà thầu thực hiện chính xác nhiệm vụ đó, dữ liệu cuối cùng vẫn có thể không đáp ứng nhu cầu thiết kế. Nếu nhiệm vụ đúng nhưng phương án kỹ thuật không phù hợp thì chất lượng số liệu có thể không bảo đảm. Nếu nhiệm vụ và phương án đều đúng nhưng thực hiện ngoài hiện trường không tuân thủ thì kết quả cũng không đáng tin cậy. Vì vậy, chất lượng khảo sát phải được kiểm soát xuyên suốt toàn bộ chuỗi.

Nhiệm vụ khảo sát xây dựng được lập cho nhiều mục đích khác nhau. Đó có thể là khảo sát phục vụ lập dự án đầu tư xây dựng, phục vụ thiết kế xây dựng công trình hoặc phục vụ thiết kế sửa chữa, cải tạo, mở rộng, nâng cấp công trình. Ngoài ra, nhiệm vụ còn có thể được lập cho các công tác khảo sát khác có liên quan đến hoạt động xây dựng.

Điều này cho thấy khảo sát không chỉ gắn với công trình xây dựng mới. Một công trình đã tồn tại nhưng cần sửa chữa hoặc nâng cấp vẫn có thể phát sinh nhu cầu khảo sát để xác định những dữ liệu cần thiết phục vụ giải pháp thiết kế.

Chủ đầu tư hoặc cơ quan chuẩn bị dự án là chủ thể tổ chức lập nhiệm vụ khảo sát. Các chủ thể này có thể trực tiếp tổ chức lập, thuê tổ chức hoặc cá nhân thực hiện, hoặc giao tổ chức, cá nhân trực thuộc có chuyên môn về thiết kế xây dựng hoặc khảo sát xây dựng lập nhiệm vụ.

Việc yêu cầu chuyên môn về thiết kế hoặc khảo sát có ý nghĩa rất quan trọng bởi nhiệm vụ khảo sát phải được xây dựng từ nhu cầu sử dụng dữ liệu. Người lập nhiệm vụ cần hiểu thông tin nào thực sự cần thiết cho việc lập dự án, thiết kế hoặc các công việc có liên quan.

Trong thực tế, khảo sát nhiều nhưng không đúng mục đích cũng có thể gây lãng phí. Ngược lại, khảo sát thiếu những thông tin quan trọng có thể dẫn đến việc phải thực hiện bổ sung ở giai đoạn sau. Vì vậy, chất lượng của nhiệm vụ khảo sát ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của toàn bộ công việc.

Sau khi nhiệm vụ được lập, chủ đầu tư hoặc cơ quan chuẩn bị dự án có trách nhiệm phê duyệt. Việc phê duyệt có thể được thể hiện bằng văn bản riêng hoặc phê duyệt trực tiếp tại nhiệm vụ khảo sát.

Nội dung đầu tiên phải xác định trong nhiệm vụ là mục đích khảo sát. Đây là điểm xuất phát để xác định toàn bộ phạm vi công việc.

Mục đích phải trả lời rõ kết quả khảo sát sẽ được sử dụng cho công việc nào. Khảo sát phục vụ lập dự án có thể cần mức độ thông tin khác với khảo sát phục vụ một bước thiết kế sau. Khảo sát phục vụ thiết kế sửa chữa có thể tập trung vào các vấn đề khác so với khảo sát xây dựng mới.

Sau mục đích là phạm vi khảo sát. Phạm vi phải được xác định phù hợp với nhu cầu thông tin của dự án. Nếu phạm vi quá hẹp thì có nguy cơ bỏ sót điều kiện quan trọng. Nếu phạm vi được xác định không phù hợp với mục đích thì có thể làm tăng khối lượng mà không tạo thêm giá trị cần thiết.

Nhiệm vụ phải xác định yêu cầu về việc áp dụng tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật về khảo sát xây dựng. Đây là cơ sở để nhà thầu lựa chọn phương pháp và tổ chức thực hiện công việc phù hợp.

Tiếp theo là sơ bộ khối lượng các loại công tác khảo sát. Khối lượng sơ bộ phản ánh quy mô dự kiến của công việc và tạo cơ sở để phương án kỹ thuật tiếp tục cụ thể hóa.

Dự toán khảo sát được xác định nếu có. Chi phí khảo sát cần có mối quan hệ với khối lượng và nội dung công việc thực tế, vì vậy việc xác định sơ bộ khối lượng ngay từ nhiệm vụ cũng hỗ trợ quá trình quản lý chi phí.

Nhiệm vụ cuối cùng phải xác định thời gian thực hiện khảo sát. Tiến độ khảo sát có quan hệ trực tiếp với tiến độ thiết kế bởi thiết kế thường chỉ có thể phát triển đầy đủ khi những dữ liệu cần thiết đã được cung cấp.

Một đặc điểm quan trọng của nhiệm vụ khảo sát là có thể được sửa đổi, bổ sung trong quá trình thực hiện dự án. Đây không phải sự thiếu ổn định của hồ sơ mà là cơ chế cần thiết để công tác khảo sát phản ứng với những thông tin mới được phát hiện trong thực tế.

Trường hợp đầu tiên là trong quá trình khảo sát phát hiện các yếu tố khác thường có thể ảnh hưởng trực tiếp đến giải pháp thiết kế.

Khi xuất hiện yếu tố bất thường, việc chỉ tiếp tục hoàn thành khối lượng đã được phê duyệt mà không xem xét vấn đề mới có thể khiến kết quả khảo sát không đủ để phục vụ thiết kế. Vì vậy, nhiệm vụ cần được bổ sung để xác định rõ phạm vi thông tin cần thu thập thêm.

Cũng trong quá trình khảo sát, nếu nhiệm vụ thiết kế thay đổi làm phát sinh nhu cầu dữ liệu mới thì nhiệm vụ khảo sát phải được bổ sung tương ứng. Đây là biểu hiện rõ nhất của mối quan hệ hai chiều giữa khảo sát và thiết kế.

Khảo sát cung cấp dữ liệu cho thiết kế, nhưng thiết kế đồng thời quyết định loại dữ liệu khảo sát cần có. Khi yêu cầu thiết kế thay đổi thì nhu cầu khảo sát có thể thay đổi theo.

Trường hợp thứ hai xuất hiện trong quá trình thiết kế. Nhà thầu tư vấn thiết kế có thể phát hiện nhiệm vụ khảo sát hoặc Báo cáo kết quả khảo sát không đáp ứng yêu cầu thiết kế.

Điểm này cho thấy nhà thầu thiết kế có vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá tính hữu dụng của dữ liệu khảo sát. Một Báo cáo kết quả khảo sát có thể đầy đủ theo nhiệm vụ ban đầu nhưng khi thiết kế phát triển sâu hơn, nhà thầu thiết kế có thể phát hiện những thông tin còn thiếu.

Khi đó, giải pháp phù hợp không phải là tự giả định dữ liệu để tiếp tục thiết kế mà cần xem xét bổ sung nhiệm vụ khảo sát nhằm thu thập những thông tin cần thiết.

Trường hợp thứ ba xuất hiện trong quá trình thi công. Khi công trình được triển khai thực tế, có thể phát hiện các yếu tố địa chất khác thường so với những thông tin đã có.

Nếu yếu tố địa chất thực tế không đáp ứng nhiệm vụ khảo sát đã được phê duyệt hoặc nhiệm vụ khảo sát ban đầu không đáp ứng được tình huống thực tế và vấn đề này có thể ảnh hưởng đến chất lượng công trình hoặc biện pháp thi công thì phải xem xét sửa đổi, bổ sung nhiệm vụ khảo sát.

Đây là cơ chế phản hồi từ công trường trở lại hoạt động khảo sát. Nó cho thấy khảo sát không phải là một giai đoạn hoàn toàn đóng lại ngay khi Báo cáo kết quả được phê duyệt.

Nếu thực tế thi công xuất hiện thông tin chứng minh dữ liệu hiện có chưa đủ thì nhu cầu khảo sát có thể được kích hoạt trở lại để bảo đảm các quyết định kỹ thuật được đưa ra trên cơ sở phù hợp.

Đối với công trình có nhiều bước thiết kế, khi lập nhiệm vụ khảo sát cho bước thiết kế sau phải xem xét nhiệm vụ và kết quả khảo sát đã thực hiện ở bước trước, đồng thời xem xét các kết quả khảo sát có liên quan được thực hiện trước đó nếu có.

Nguyên tắc này thể hiện yêu cầu kế thừa dữ liệu. Mục tiêu không phải mỗi bước thiết kế đều thực hiện lại toàn bộ khảo sát, mà phải rà soát những thông tin đã có, xác định thông tin nào vẫn đáp ứng yêu cầu và thông tin nào cần được bổ sung.

Sau khi nhiệm vụ khảo sát được phê duyệt, nhà thầu khảo sát xây dựng phải lập phương án kỹ thuật phù hợp với nhiệm vụ.

Nếu nhiệm vụ được xem là “đầu bài”, phương án kỹ thuật chính là kế hoạch chuyên môn để thực hiện đầu bài đó. Vì vậy, mọi nội dung của phương án phải có khả năng truy ngược về mục đích và yêu cầu đã được xác định trong nhiệm vụ.

Phương án kỹ thuật trước hết phải xác định cơ sở lập phương án. Đây là nền tảng để giải thích việc lựa chọn phạm vi, phương pháp và các biện pháp thực hiện.

Tiếp theo phải xác định thành phần và khối lượng công tác khảo sát. Nội dung này cụ thể hóa khối lượng sơ bộ đã được xác định trong nhiệm vụ thành những công việc có thể tổ chức triển khai.

Phương án phải xác định phương pháp khảo sát, thiết bị sử dụng và phòng thí nghiệm nếu có. Đây là nhóm nội dung có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dữ liệu.

Phương pháp phải phù hợp với loại thông tin cần thu thập. Thiết bị phải phù hợp với phương pháp. Phòng thí nghiệm được sử dụng phải tương ứng với nhu cầu thí nghiệm của công tác khảo sát.

Phương án phải xác định quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn áp dụng về khảo sát xây dựng. Nội dung này cần thống nhất với nhiệm vụ đã được phê duyệt.

Một nội dung đặc biệt quan trọng là tổ chức thực hiện và biện pháp kiểm soát chất lượng của nhà thầu khảo sát. Nhà thầu không chỉ cần trình bày mình sẽ thực hiện công việc gì mà còn phải xác định cách kiểm soát để bảo đảm công việc được thực hiện đúng.

Phương án tiếp tục phải xác định tiến độ. Tiến độ phải phù hợp với khối lượng công việc và được phối hợp với tiến độ chung của dự án.

Ngoài chuyên môn, phương án phải xác định biện pháp bảo đảm an toàn cho người và thiết bị trong quá trình khảo sát. Đồng thời phải bảo đảm an toàn đối với các công trình hạ tầng kỹ thuật và các công trình xây dựng khác trong khu vực.

Đây là yêu cầu quan trọng bởi công tác khảo sát có thể được thực hiện trong khu vực đang tồn tại nhiều hệ thống kỹ thuật và công trình. Một hoạt động khảo sát không được kiểm soát có thể gây ảnh hưởng đến chính người thực hiện hoặc các đối tượng xung quanh.

Phương án còn phải xác định biện pháp bảo vệ môi trường, giữ gìn cảnh quan và phục hồi hiện trạng sau khi kết thúc khảo sát.

Như vậy, phương án kỹ thuật phải trả lời đầy đủ không chỉ vấn đề “khảo sát thế nào để có dữ liệu” mà còn “làm thế nào để kiểm soát chất lượng, tiến độ, an toàn và tác động đến khu vực khảo sát”.

Sau khi phương án được lập, chủ đầu tư hoặc cơ quan chuẩn bị dự án phải kiểm tra hoặc có thể thuê tổ chức tư vấn thẩm tra. Trên cơ sở đó, phương án được phê duyệt bằng văn bản hoặc phê duyệt trực tiếp tại hồ sơ theo quy định của hợp đồng xây dựng.

Cơ chế này tạo ra sự phân định rõ trách nhiệm. Nhà thầu khảo sát chịu trách nhiệm xây dựng phương án chuyên môn. Chủ đầu tư hoặc cơ quan chuẩn bị dự án chịu trách nhiệm kiểm tra, tổ chức thẩm tra khi cần và phê duyệt.

Sau khi phương án được phê duyệt, công việc chuyển sang giai đoạn thực hiện. Nhà thầu khảo sát phải bố trí đủ nhân lực có kinh nghiệm và chuyên môn phù hợp theo yêu cầu của hợp đồng.

Không chỉ đủ về số lượng, nhân sự còn phải phù hợp về chuyên môn đối với loại hình khảo sát được thực hiện.

Nhà thầu phải cử người có đủ điều kiện năng lực làm chủ nhiệm khảo sát. Chủ nhiệm là nhân sự giữ vai trò tổ chức chuyên môn đối với công tác khảo sát.

Nhà thầu đồng thời phải thực hiện các biện pháp kiểm soát chất lượng đã được xác định trong phương án kỹ thuật. Điều này rất quan trọng bởi giá trị của phương án chỉ được hiện thực hóa khi các biện pháp đã cam kết được áp dụng ngoài hiện trường.

Về phía chủ đầu tư, tùy quy mô và loại hình khảo sát, chủ đầu tư có thể tự thực hiện hoặc thuê tổ chức, cá nhân có chuyên môn phù hợp để giám sát công tác khảo sát.

Giám sát khảo sát trước hết phải kiểm tra điều kiện thực hiện của nhà thầu. Nội dung kiểm tra bao gồm nhân lực, thiết bị tại hiện trường và phòng thí nghiệm nếu có.

Việc kiểm tra phải thực hiện bằng cách đối chiếu với phương án đã được phê duyệt và các quy định của hợp đồng. Đây là cách xác định nhà thầu có thực sự triển khai đúng những điều kiện đã được xác lập hay không.

Giám sát tiếp tục phải theo dõi vị trí khảo sát. Vị trí có ý nghĩa đặc biệt bởi số liệu khảo sát chỉ có giá trị khi có thể xác định chúng phản ánh điều kiện tại khu vực cần nghiên cứu.

Khối lượng khảo sát thực tế cũng phải được theo dõi. Qua đó có thể xác định nhà thầu đã thực hiện đủ các công việc được phê duyệt hay chưa.

Quy trình thực hiện khảo sát phải được kiểm tra để bảo đảm phương pháp đã được phê duyệt được áp dụng đúng trong thực tế.

Việc lưu giữ số liệu khảo sát và mẫu thí nghiệm cũng phải được giám sát. Dữ liệu gốc và mẫu là những thành phần quan trọng tạo cơ sở cho việc phân tích và lập báo cáo.

Công tác thí nghiệm trong phòng và thí nghiệm hiện trường cũng nằm trong phạm vi theo dõi, kiểm tra. Những kết quả này có thể trở thành thông số đầu vào trực tiếp của thiết kế nên cần được kiểm soát phù hợp.

Cuối cùng, công tác bảo đảm an toàn lao động và an toàn môi trường trong quá trình khảo sát cũng phải được giám sát.

Nếu phát hiện nhà thầu không thực hiện đúng phương án đã được phê duyệt hoặc vi phạm các quy định của hợp đồng thì chủ đầu tư hoặc cơ quan chuẩn bị dự án có quyền đình chỉ công việc khảo sát.

Quyền đình chỉ cho phép ngăn chặn việc tiếp tục tạo ra dữ liệu trong điều kiện không bảo đảm. Trong nhiều trường hợp, dừng để khắc phục sai lệch có thể hiệu quả hơn việc tiếp tục khảo sát rồi phải loại bỏ hoặc thực hiện lại kết quả sau đó.

Sau khi hoàn thành khảo sát, kết quả phải được tổng hợp thành Báo cáo kết quả khảo sát xây dựng. Đây là tài liệu chuyển toàn bộ quá trình khảo sát thành một sản phẩm kỹ thuật có thể được sử dụng cho các bước tiếp theo.

Báo cáo trước hết phải xác định căn cứ thực hiện khảo sát. Sau đó phải khái quát vị trí và điều kiện tự nhiên của khu vực khảo sát, đồng thời trình bày đặc điểm, quy mô và tính chất công trình.

Những thông tin này giúp đặt dữ liệu khảo sát vào đúng bối cảnh. Một số liệu kỹ thuật chỉ thực sự có ý nghĩa khi người sử dụng hiểu nó được thu thập ở đâu và phục vụ công trình có đặc điểm gì.

Báo cáo phải trình bày các tiêu chuẩn khảo sát xây dựng đã áp dụng, quy trình và phương pháp khảo sát.

Tiếp theo là khối lượng khảo sát thực tế đã thực hiện. Khối lượng này cần phản ánh đúng công việc đã triển khai thay vì chỉ sao chép khối lượng dự kiến trong phương án.

Báo cáo phải trình bày kết quả và số liệu khảo sát sau khi thí nghiệm, phân tích. Đây là phần dữ liệu kỹ thuật quan trọng của báo cáo.

Tuy nhiên, một Báo cáo kết quả khảo sát không thể chỉ dừng ở bảng số liệu. Nhà thầu phải phân tích dữ liệu và đánh giá kết quả khảo sát.

Thông qua phân tích, dữ liệu được chuyển thành thông tin có ý nghĩa đối với thiết kế và thi công. Đây cũng là cơ sở để nhà thầu đưa ra đề xuất, kiến nghị về giải pháp kỹ thuật phục vụ thiết kế và thi công xây dựng.

Nếu có những vấn đề cần đặc biệt lưu ý hoặc những đề xuất khác thì phải được thể hiện trong báo cáo. Sau cùng, báo cáo phải có kết luận, kiến nghị và các phụ lục kèm theo.

Có thể nhìn cấu trúc Báo cáo kết quả theo một chuỗi logic: căn cứ thực hiện → bối cảnh khu vực và công trình → tiêu chuẩn và phương pháp → khối lượng thực tế → số liệu thu được → phân tích, đánh giá → đề xuất kỹ thuật → kết luận và kiến nghị → phụ lục.

Sau khi báo cáo được lập, chủ đầu tư hoặc cơ quan chuẩn bị dự án có trách nhiệm phê duyệt bằng văn bản hoặc phê duyệt trực tiếp tại Báo cáo kết quả khảo sát.

Trước khi phê duyệt, chủ đầu tư hoặc cơ quan chuẩn bị dự án được quyền yêu cầu nhà thầu tư vấn thiết kế kiểm tra Báo cáo kết quả khảo sát nếu nhà thầu thiết kế độc lập với nhà thầu khảo sát.

Quy định này tạo ra sự liên kết trực tiếp giữa người tạo dữ liệu và người sử dụng dữ liệu. Nhà thầu khảo sát tạo ra kết quả, còn nhà thầu thiết kế có thể kiểm tra kết quả đó có đáp ứng nhu cầu thiết kế hay không.

Đây cũng là một cơ chế có khả năng phát hiện sớm nhu cầu khảo sát bổ sung. Nếu nhà thầu thiết kế nhận thấy báo cáo không đủ cơ sở để phát triển giải pháp thì vấn đề có thể được xử lý trước khi thiết kế đi quá sâu.

Ngoài việc yêu cầu nhà thầu thiết kế kiểm tra, chủ đầu tư hoặc cơ quan chuẩn bị dự án có thể thuê một tổ chức tư vấn khác kiểm tra Báo cáo kết quả làm cơ sở phê duyệt.

Tuy nhiên, dù báo cáo được kiểm tra bởi nhà thầu thiết kế, tư vấn độc lập hay được chủ đầu tư phê duyệt thì trách nhiệm về chất lượng khảo sát vẫn thuộc về nhà thầu khảo sát.

Nhà thầu khảo sát phải chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật về chất lượng công việc do mình thực hiện. Việc chủ đầu tư hoặc cơ quan chuẩn bị dự án phê duyệt Báo cáo kết quả không thay thế và không làm giảm trách nhiệm đó.

Đây là nguyên tắc phân định trách nhiệm rất rõ. Phê duyệt không phải là cơ chế chuyển trách nhiệm chuyên môn từ nhà thầu sang chủ đầu tư.

Tương tự, việc một đơn vị tư vấn khác kiểm tra báo cáo cũng không làm mất trách nhiệm của nhà thầu đã trực tiếp thực hiện khảo sát.

Sau khi hoàn thành, Báo cáo kết quả khảo sát xây dựng trở thành một thành phần của hồ sơ hoàn thành công trình và phải được lưu trữ theo quy định.

Việc lưu trữ có ý nghĩa lâu dài. Dữ liệu khảo sát không chỉ phục vụ thời điểm thiết kế ban đầu mà có thể tiếp tục có giá trị khi quản lý, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp hoặc nghiên cứu công trình trong tương lai.

Nếu hệ thống hóa trách nhiệm của các chủ thể trong toàn bộ quá trình thì có thể thấy mỗi chủ thể đảm nhiệm một vai trò khác nhau nhưng liên kết chặt chẽ.

Chủ đầu tư hoặc cơ quan chuẩn bị dự án tổ chức lập và phê duyệt nhiệm vụ; kiểm tra hoặc tổ chức thẩm tra và phê duyệt phương án kỹ thuật; quản lý quá trình khảo sát; có quyền đình chỉ công việc khi nhà thầu thực hiện không đúng; đồng thời phê duyệt Báo cáo kết quả.

Nhà thầu khảo sát xây dựng lập phương án kỹ thuật phù hợp với nhiệm vụ đã được phê duyệt, bố trí nhân lực và chủ nhiệm khảo sát, tổ chức thực hiện, kiểm soát chất lượng, thu thập và phân tích dữ liệu, lập Báo cáo kết quả và chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật về chất lượng khảo sát do mình thực hiện.

Tổ chức hoặc cá nhân giám sát khảo sát kiểm tra điều kiện thực hiện, nhân lực, thiết bị, phòng thí nghiệm, vị trí, khối lượng, quy trình, dữ liệu, mẫu, thí nghiệm và an toàn trong quá trình khảo sát.

Nhà thầu tư vấn thiết kế là chủ thể sử dụng kết quả khảo sát để phát triển giải pháp thiết kế và có thể được yêu cầu kiểm tra Báo cáo kết quả khi độc lập với nhà thầu khảo sát. Trong quá trình thiết kế, nếu phát hiện dữ liệu không đáp ứng yêu cầu, nhà thầu thiết kế còn là một trong những chủ thể nhận diện nhu cầu khảo sát bổ sung.

Mối quan hệ giữa các chủ thể này tạo thành một hệ thống kiểm soát nhiều lớp nhưng không làm hòa lẫn trách nhiệm. Chủ đầu tư quản lý và phê duyệt; nhà thầu khảo sát chịu trách nhiệm về chất lượng chuyên môn; đơn vị giám sát theo dõi việc thực hiện; nhà thầu thiết kế đánh giá khả năng sử dụng dữ liệu cho thiết kế.

Một điểm cần đặc biệt nhấn mạnh là khảo sát xây dựng phải được quản lý như một quá trình có khả năng cập nhật chứ không phải một công việc thực hiện một lần duy nhất. Dữ liệu được thu thập ở bước đầu có thể đủ cho bước thiết kế ban đầu nhưng chưa chắc đủ cho bước sau. Điều kiện được dự báo trong hồ sơ có thể khác với điều kiện được phát hiện khi thi công. Nhiệm vụ thiết kế cũng có thể thay đổi làm phát sinh yêu cầu thông tin mới.

Do đó, cơ chế sửa đổi, bổ sung nhiệm vụ khảo sát đóng vai trò như một “vòng phản hồi” của hệ thống. Khi xuất hiện thông tin mới, hệ thống không buộc thiết kế hoặc thi công phải tiếp tục dựa trên dữ liệu không còn phù hợp mà cho phép quay lại xác định nhu cầu khảo sát bổ sung.

Có thể mô tả toàn bộ chu trình khảo sát bằng một mạch liên tục: nhu cầu của dự án và thiết kế hình thành mục đích khảo sát; mục đích tạo ra nhiệm vụ khảo sát; nhiệm vụ được chuyển thành phương án kỹ thuật; phương án được hiện thực hóa bằng công việc tại hiện trường và phòng thí nghiệm; quá trình thực hiện được kiểm soát thông qua giám sát; dữ liệu được phân tích và tổng hợp thành Báo cáo kết quả; báo cáo được kiểm tra và phê duyệt; kết quả được sử dụng cho thiết kế và thi công; nếu quá trình sử dụng phát hiện dữ liệu không đáp ứng thì nhu cầu khảo sát bổ sung được hình thành và chu trình tiếp tục.

Chính chuỗi quan hệ này mới phản ánh đầy đủ bản chất của quản lý khảo sát xây dựng.

Tóm lại, từ Điều 10 đến Điều 15 hình thành một hệ thống quản lý tương đối hoàn chỉnh đối với khảo sát xây dựng, bắt đầu từ lập và phê duyệt nhiệm vụ, tiếp tục bằng lập và phê duyệt phương án kỹ thuật, tổ chức thực hiện và giám sát, xử lý các yếu tố bất thường, lập Báo cáo kết quả, phê duyệt và lưu trữ. Nhiệm vụ khảo sát phải xác định đúng mục đích, phạm vi, yêu cầu về tiêu chuẩn và quy chuẩn, khối lượng sơ bộ, dự toán nếu có và thời gian thực hiện. Phương án kỹ thuật phải cụ thể hóa nhiệm vụ thành khối lượng, phương pháp, thiết bị, phòng thí nghiệm, tiêu chuẩn, tổ chức thực hiện, kiểm soát chất lượng, tiến độ, an toàn và bảo vệ môi trường. Nhà thầu khảo sát phải bố trí nhân lực phù hợp, cử chủ nhiệm đủ điều kiện năng lực, thực hiện đúng phương án và chịu trách nhiệm toàn diện về chất lượng khảo sát. Chủ đầu tư có quyền tổ chức giám sát, kiểm tra điều kiện thực hiện và đình chỉ công việc nếu nhà thầu không tuân thủ phương án hoặc hợp đồng. Khi dữ liệu không đáp ứng yêu cầu do phát hiện yếu tố bất thường, thay đổi nhiệm vụ thiết kế, yêu cầu của nhà thầu tư vấn thiết kế hoặc điều kiện thực tế trong thi công, nhiệm vụ khảo sát phải được xem xét sửa đổi, bổ sung. Báo cáo kết quả phải phản ánh không chỉ số liệu mà còn có phân tích, đánh giá, đề xuất kỹ thuật, kết luận và kiến nghị. Chủ đầu tư hoặc cơ quan chuẩn bị dự án phê duyệt báo cáo nhưng việc phê duyệt không thay thế và không làm giảm trách nhiệm của nhà thầu khảo sát. Báo cáo sau cùng được đưa vào hồ sơ hoàn thành công trình và lưu trữ theo quy định. Khi toàn bộ chuỗi này được thực hiện đúng và có sự phối hợp rõ ràng giữa chủ đầu tư, nhà thầu khảo sát, tư vấn thiết kế và đơn vị giám sát, kết quả khảo sát mới thực sự trở thành nguồn dữ liệu đáng tin cậy để thiết kế đúng điều kiện thực tế, lựa chọn giải pháp thi công phù hợp và kiểm soát chất lượng công trình trong toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng.

 

CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ & THIẾT KẾ XÂY DỰNG MINH PHƯƠNG

Địa chỉ: Số 28B Mai Thị Lựu, Phường Đa Kao, Q.1, TPHCM

Hotline:  0903649782 - (028) 3514 6426

Email: nguyenthanhmp156@gmail.com

 


Tin tức liên quan

Dự án đầu tư công đặc biệt
Dự án đầu tư công đặc biệt

47 Lượt xem

Dự án đầu tư công đặc biệt

THIẾT KẾ XÂY DỰNG
THIẾT KẾ XÂY DỰNG

44 Lượt xem

THIẾT KẾ XÂY DỰNG

Nhiệm vụ thiết kế xây dựng
Nhiệm vụ thiết kế xây dựng

50 Lượt xem

Nhiệm vụ thiết kế xây dựng

Nội dung thiết kế cơ sở
Nội dung thiết kế cơ sở

47 Lượt xem

Nội dung thiết kế cơ sở

Nội dung thiết kế FEED
Nội dung thiết kế FEED

68 Lượt xem

Nội dung thiết kế FEED

Nội dung thiết kế kỹ thuật
Nội dung thiết kế kỹ thuật

22 Lượt xem

Nội dung thiết kế kỹ thuật


Bình luận
  • Đánh giá của bạn
Đã thêm vào giỏ hàng