Nội dung của Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng

Nội dung của Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng

Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng là hồ sơ có vai trò quan trọng đối với những dự án thuộc trường hợp chỉ yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật theo quy định của pháp luật xây dựng. Mặc dù được áp dụng đối với một phạm vi dự án nhất định, Báo cáo vẫn phải thể hiện một cách có hệ thống những căn cứ cần thiết để xem xét dự án từ thời điểm hình thành nhu cầu đầu tư cho đến khi công trình được xây dựng, đưa vào khai thác, vận hành và bảo trì. Vì vậy, Báo cáo kinh tế - kỹ thuật không nên được hiểu đơn giản là một hồ sơ mô tả công trình hoặc tập hợp thiết kế và chi phí, mà là một hệ thống nội dung có mối quan hệ chặt chẽ giữa mục tiêu đầu tư, địa điểm, quy hoạch, điều kiện thực hiện, giải pháp kỹ thuật, tổng mức đầu tư, nguồn vốn, tiến độ, hiệu quả và khả năng khai thác công trình sau khi hoàn thành.

Theo quy định, phần thuyết minh của Báo cáo kinh tế - kỹ thuật được xây dựng trên cơ sở khoản 2 Điều 25 Luật Xây dựng năm 2025. Nội dung đầu tiên phải làm rõ là sự cần thiết đầu tư, mục tiêu đầu tư xây dựng và quy mô công suất của dự án. Đây có thể xem là nền tảng để phát triển toàn bộ những nội dung tiếp theo, bởi chỉ khi xác định được vì sao cần đầu tư và đầu tư nhằm đạt mục tiêu gì thì mới có thể xác định hợp lý quy mô, địa điểm, giải pháp thiết kế, chi phí và phương án tổ chức thực hiện.

Sự cần thiết đầu tư cần phản ánh được nhu cầu thực tế dẫn đến việc hình thành dự án. Dự án được đề xuất để giải quyết một yêu cầu cụ thể, bổ sung một công trình, cải thiện điều kiện hiện có hoặc phục vụ một mục tiêu đầu tư đã được xác định. Từ nhu cầu đó, mục tiêu đầu tư phải được trình bày rõ ràng để làm cơ sở xác định kết quả mà dự án cần đạt được sau khi hoàn thành.

Gắn trực tiếp với mục tiêu là quy mô và công suất. Quy mô không nên được xác định tách rời nhu cầu đầu tư mà phải tương xứng với mục tiêu của dự án. Nếu quy mô quá nhỏ so với nhu cầu thì công trình có thể không đáp ứng mục tiêu; ngược lại, quy mô vượt quá nhu cầu thực tế có thể làm tăng nguồn lực đầu tư cần thiết. Vì vậy, mục tiêu và quy mô cần được trình bày thống nhất ngay từ đầu.

Trường hợp dự án đã có văn bản quyết định chủ trương đầu tư hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư, Báo cáo còn phải đánh giá sự phù hợp của các nội dung tương ứng với văn bản đó. Đây là yêu cầu nhằm bảo đảm tính liên tục giữa các giai đoạn chuẩn bị đầu tư.

Khi chủ trương đầu tư đã xác lập một số nội dung cơ bản của dự án thì Báo cáo kinh tế - kỹ thuật phải được xây dựng trên nền tảng đó. Việc đánh giá sự phù hợp giúp xác định các nội dung được cụ thể hóa trong Báo cáo có thống nhất với quyết định hoặc chấp thuận đã có hay không.

Sau khi xác định sự cần thiết, mục tiêu và quy mô, Báo cáo phải làm rõ địa điểm xây dựng và diện tích sử dụng đất. Địa điểm là một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến giải pháp quy hoạch, thiết kế, điều kiện thi công, kết nối hạ tầng và quá trình khai thác công trình.

Tuy nhiên, việc xác định địa điểm không chỉ dừng ở tên khu vực hoặc vị trí công trình. Báo cáo phải đánh giá sự phù hợp của dự án với quy hoạch được sử dụng làm căn cứ lập dự án và sự phù hợp với các quy hoạch có liên quan.

Yêu cầu này tạo ra một bước kiểm tra quan trọng giữa phương án đầu tư và cơ sở quy hoạch. Một dự án dù có mục tiêu cần thiết nhưng địa điểm hoặc quy mô không phù hợp với quy hoạch làm căn cứ lập dự án thì cần được xem xét tương ứng trước khi tiếp tục triển khai.

Diện tích sử dụng đất cũng phải phù hợp với quy mô và công năng của công trình. Nội dung này có quan hệ trực tiếp với bố trí không gian, giải pháp thiết kế, phương án giải phóng mặt bằng và tổng mức đầu tư.

Báo cáo tiếp tục xác định hình thức đầu tư xây dựng. Theo quy định, dự án có thể thuộc hình thức đầu tư công, đầu tư theo phương thức đối tác công tư hoặc đầu tư kinh doanh.

Việc xác định chính xác hình thức đầu tư rất quan trọng vì hình thức đầu tư có liên quan đến nguồn vốn, cơ chế quản lý, chủ thể tham gia và cách thức tổ chức thực hiện. Vì vậy, đây không chỉ là thông tin để phân loại dự án mà còn là một căn cứ xuyên suốt quá trình quản lý.

Một nhóm nội dung có phạm vi tương đối rộng là phân tích các yếu tố bảo đảm thực hiện dự án. Báo cáo phải xem xét điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - kỹ thuật, việc sử dụng tài nguyên, sử dụng lao động, lựa chọn công nghệ, thiết bị, giải pháp tổ chức quản lý thực hiện dự án cũng như điều kiện khai thác, sử dụng.

Đây chính là bước chuyển từ việc trả lời câu hỏi “dự án cần được đầu tư hay không” sang câu hỏi “dự án có thể được thực hiện như thế nào”. Sự cần thiết và mục tiêu mới xác lập nhu cầu; còn các điều kiện thực hiện cho thấy khả năng biến mục tiêu thành công trình thực tế.

Điều kiện tự nhiên cần được xem xét trong mối quan hệ với địa điểm xây dựng và giải pháp kỹ thuật. Những đặc điểm của khu vực thực hiện có thể ảnh hưởng đến thiết kế, thi công và quá trình sử dụng công trình.

Điều kiện kinh tế - kỹ thuật phản ánh những yếu tố có khả năng hỗ trợ hoặc tác động đến quá trình triển khai. Các nội dung này cần được phân tích ở mức phù hợp với quy mô và tính chất dự án.

Việc sử dụng tài nguyên và lao động cũng phải được xem xét bởi đây là những nguồn lực gắn với quá trình xây dựng hoặc khai thác công trình. Việc phân tích giúp hình thành cái nhìn tổng thể hơn về khả năng tổ chức thực hiện.

Đối với công nghệ và thiết bị, việc lựa chọn cần gắn với mục tiêu, công suất và phương án khai thác. Công nghệ không nên được lựa chọn độc lập với công trình, bởi công nghệ và thiết bị có thể tác động đến mặt bằng, giải pháp thiết kế, chi phí, nhân lực vận hành và yêu cầu bảo trì.

Cùng với đó là giải pháp tổ chức quản lý thực hiện dự án. Một dự án có giải pháp kỹ thuật phù hợp nhưng thiếu mô hình quản lý tương ứng vẫn có thể gặp khó khăn trong quá trình triển khai. Do đó, Báo cáo phải xác định cách thức tổ chức quản lý phù hợp với điều kiện của dự án.

Việc khai thác và sử dụng cũng phải được xem xét ngay từ giai đoạn lập Báo cáo. Điều này cho thấy dự án không chỉ được đánh giá đến thời điểm hoàn thành xây dựng mà còn phải tính đến khả năng đưa công trình vào sử dụng sau đầu tư.

Nếu dự án có yêu cầu giải phóng mặt bằng thì Báo cáo phải xây dựng phương án giải phóng mặt bằng xây dựng. Đây là một trong những nội dung có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ.

Phương án giải phóng mặt bằng cần được đặt trong mối quan hệ với địa điểm, diện tích sử dụng đất và các mốc triển khai dự án. Nếu thời gian giải phóng mặt bằng không tương thích với tiến độ dự kiến thì kế hoạch xây dựng có thể bị ảnh hưởng.

Đối với dự án không phát sinh yêu cầu giải phóng mặt bằng thì không cần hình thành nội dung này một cách máy móc. Điều kiện “nếu có” cho phép Báo cáo phản ánh đúng tình trạng thực tế.

Một thông tin khác phải được xác định là cấp công trình của dự án. Cấp công trình có ý nghĩa trong việc xác định các yêu cầu quản lý tương ứng và cần thống nhất với quy mô, tính chất của công trình được thể hiện trong hồ sơ.

Việc xác định cấp công trình không nên tách khỏi các thông tin khác. Nếu quy mô hoặc giải pháp thiết kế thay đổi theo hướng có ảnh hưởng đến việc xác định cấp thì các nội dung liên quan trong Báo cáo cũng cần được xem xét thống nhất.

Đối với phòng cháy và chữa cháy, Báo cáo phải trình bày phương án phòng cháy, chữa cháy và đánh giá sự phù hợp của giải pháp thiết kế với các yêu cầu của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trong trường hợp dự án có yêu cầu.

Nội dung này cho thấy yêu cầu phòng cháy, chữa cháy phải được tích hợp với thiết kế. Không thể hoàn thiện giải pháp thiết kế rồi mới xem xét một cách tách biệt vấn đề phòng cháy. Các yêu cầu tương ứng phải được phản ánh trong giải pháp thiết kế của công trình.

Đánh giá sự phù hợp của thiết kế với yêu cầu phòng cháy, chữa cháy giúp kết nối hồ sơ xây dựng với các quy định chuyên ngành. Tùy loại công trình và trường hợp cụ thể, các yêu cầu này cần được xử lý tương ứng trong quá trình lập dự án.

Song song với phòng cháy, chữa cháy là nội dung môi trường. Báo cáo phải đánh giá tác động môi trường và việc bảo vệ môi trường của dự án.

Nếu pháp luật về bảo vệ môi trường yêu cầu phải lập một Báo cáo riêng thì phần thuyết minh của Báo cáo kinh tế - kỹ thuật chỉ cần nêu kết quả thực hiện. Cơ chế này tránh việc sao chép hoặc lặp lại toàn bộ một hồ sơ chuyên ngành đã được lập theo quy trình riêng.

Điều quan trọng là kết quả thực hiện yêu cầu môi trường phải được kết nối với hồ sơ dự án để cơ quan thẩm định và người quyết định đầu tư có thể xem xét trong tổng thể.

Sau các điều kiện pháp lý và kỹ thuật, Báo cáo phải xác định dự kiến thời gian thực hiện dự án và các mốc thời gian chính. Tiến độ là một trong những nội dung giúp chuyển phương án đầu tư thành kế hoạch có thể tổ chức thực hiện.

Thời gian thực hiện phải phù hợp với khối lượng xây dựng, điều kiện mặt bằng, khả năng huy động vốn, phương án thi công và các công việc cần hoàn thành trước khi xây dựng.

Các mốc thời gian chính giúp chia quá trình thực hiện thành những giai đoạn có thể kiểm soát. Nhờ đó, chủ đầu tư có cơ sở theo dõi việc triển khai và đánh giá khả năng đáp ứng kế hoạch.

Cùng với tiến độ, Báo cáo phải xác định hình thức quản lý dự án. Đây là nội dung trả lời câu hỏi dự án sẽ được tổ chức quản lý bằng mô hình nào trong giai đoạn thực hiện.

Hình thức quản lý cần phù hợp với quy mô, tính chất, hình thức đầu tư và điều kiện thực tế. Việc lựa chọn đúng mô hình giúp hình thành bộ máy có khả năng kiểm soát tiến độ, chất lượng, chi phí và những nội dung quản lý khác.

Một nội dung gắn trực tiếp với thiết kế là giải pháp thi công xây dựng công trình. Báo cáo phải trình bày giải pháp thi công và phương án bảo đảm an toàn trong xây dựng.

Giải pháp thi công phải phù hợp với thiết kế bản vẽ thi công, điều kiện công trường và đặc điểm của công trình. Việc lựa chọn phương án cần hướng đến khả năng thực hiện giải pháp thiết kế trên thực tế.

An toàn trong xây dựng phải được xem xét đồng thời với giải pháp thi công. Không nên hiểu đây là hai nội dung hoàn toàn tách biệt, bởi cách thức tổ chức thi công có ảnh hưởng trực tiếp đến những yêu cầu bảo đảm an toàn.

Một giải pháp kỹ thuật có thể thực hiện được nhưng nếu chưa xác định được phương án bảo đảm an toàn tương ứng thì chưa thể xem là đã giải quyết đầy đủ điều kiện triển khai.

Tiếp theo là tổng mức đầu tư xây dựng. Đây là nội dung có ý nghĩa đặc biệt vì lượng hóa nguồn lực tài chính dự kiến cần thiết để thực hiện dự án.

Tổng mức đầu tư phải được xác định theo quy định của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Vì vậy, việc lập tổng mức đầu tư không chỉ dựa trên ước tính chủ quan mà phải tuân theo các căn cứ và phương pháp tương ứng.

Tổng mức đầu tư cần phản ánh thống nhất quy mô và giải pháp kỹ thuật được xác định trong Báo cáo. Khi thiết kế thay đổi hoặc công nghệ, thiết bị, giải pháp thi công có sự điều chỉnh thì tác động đến chi phí cũng phải được xem xét.

Mối liên hệ giữa thiết kế và tổng mức đầu tư là một trong những điểm cần đặc biệt kiểm soát. Thiết kế xác định công trình cần được xây dựng như thế nào; tổng mức đầu tư xác định nguồn lực tài chính cần thiết để thực hiện phương án đó.

Nếu hai nội dung không thống nhất thì tính khả thi của Báo cáo sẽ bị ảnh hưởng. Một giải pháp thiết kế vượt quá khả năng tài chính hoặc một tổng mức đầu tư không phản ánh đầy đủ giải pháp thiết kế đều có thể làm giảm khả năng triển khai dự án.

Sau khi xác định tổng mức đầu tư, Báo cáo phải làm rõ nguồn vốn, khả năng huy động vốn và phương thức huy động vốn nếu có.

Nguồn vốn trả lời câu hỏi dự án sẽ được tài trợ bằng nguồn lực nào. Khả năng huy động vốn phản ánh mức độ bảo đảm nguồn lực để thực hiện theo tiến độ. Phương thức huy động, nếu có, làm rõ cách thức nguồn vốn dự kiến được bố trí hoặc huy động.

Ba yếu tố tổng mức đầu tư, nguồn vốn và tiến độ phải có sự liên kết. Tiến độ thi công tạo ra nhu cầu vốn theo từng giai đoạn; khả năng huy động vốn phải đáp ứng được nhu cầu đó. Nếu nguồn vốn không được bảo đảm tương ứng với tiến độ thì kế hoạch thực hiện cần được xem xét lại.

Báo cáo còn phải đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án. Đây là bước xem xét những lợi ích và kết quả dự kiến mà dự án mang lại so với mục tiêu ban đầu.

Nội dung đánh giá cần phù hợp với tính chất của dự án. Dự án đầu tư công, dự án PPP và dự án đầu tư kinh doanh có thể có mục tiêu khác nhau, vì vậy cách thể hiện hiệu quả cũng cần tương ứng với hình thức đầu tư.

Cùng với hiệu quả kinh tế - xã hội, Báo cáo phải xem xét các yếu tố bảo đảm quốc phòng và an ninh. Điều này cho thấy việc đánh giá dự án không chỉ tập trung vào khía cạnh kinh tế hoặc kỹ thuật mà phải đặt trong những yêu cầu quản lý rộng hơn.

Đối với dự án có khả năng thu hồi vốn, Báo cáo phải đánh giá khả năng thu hồi vốn. Điều kiện “nếu có” có ý nghĩa quan trọng vì không phải mọi dự án đều được tổ chức theo mô hình tạo nguồn thu để hoàn vốn.

Với dự án có cơ chế thu hồi vốn, nội dung này cần gắn với hình thức đầu tư, tổng mức đầu tư, nguồn vốn và phương thức khai thác. Qua đó có thể xem xét mối quan hệ giữa nguồn lực bỏ ra và khả năng tạo nguồn tài chính trong quá trình hoạt động.

Báo cáo kinh tế - kỹ thuật cũng phải hướng đến giai đoạn sau khi công trình hoàn thành. Trong trường hợp có yêu cầu, cần trình bày phương án đào tạo, chuyển giao công nghệ, vận hành khai thác, duy tu và bảo trì.

Đây là nội dung thường có ý nghĩa lớn đối với công trình sử dụng công nghệ hoặc thiết bị cần đội ngũ vận hành chuyên môn. Nếu công trình hoàn thành nhưng nhân sự chưa được đào tạo hoặc chưa hoàn tất chuyển giao công nghệ thì khả năng khai thác có thể bị ảnh hưởng.

Vì vậy, phương án đào tạo và chuyển giao công nghệ cần được xem xét cùng với lựa chọn công nghệ, thiết bị ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án.

Tương tự, vận hành khai thác cần được dự kiến từ trước. Công trình được xây dựng để phục vụ một mục tiêu cụ thể nên mô hình khai thác sau đầu tư phải tương thích với công năng đã được thiết kế.

Duy tu, bảo trì tiếp tục là yêu cầu trong quá trình sử dụng. Báo cáo phải xem xét phương án bảo trì trong trường hợp cần thiết và đánh giá khả năng đáp ứng nguồn vốn bảo trì nếu có.

Điều này mở rộng phạm vi xem xét từ chi phí đầu tư ban đầu sang nguồn lực duy trì công trình sau khi đưa vào sử dụng. Một dự án có đủ vốn để xây dựng nhưng không xem xét khả năng bảo trì có thể gặp khó khăn trong việc duy trì chất lượng và công năng lâu dài.

Ngoài các nội dung nêu trên, Báo cáo có thể kiến nghị cơ chế phối hợp, chính sách ưu đãi và hỗ trợ thực hiện dự án.

Những kiến nghị này cần xuất phát từ đặc điểm cụ thể của dự án và những vấn đề cần phối hợp trong quá trình triển khai. Việc kiến nghị không đồng nghĩa với mặc nhiên được áp dụng mà là cơ sở để các chủ thể có thẩm quyền xem xét theo quy định.

Báo cáo cũng có thể trình bày các nội dung cần thiết khác. Đây là quy định mở để hồ sơ phản ánh đầy đủ những vấn đề đặc thù chưa được liệt kê cụ thể nhưng có ảnh hưởng đến việc xem xét và thực hiện dự án.

Ngoài phần thuyết minh chung, dự án có yếu tố công nghệ đặc biệt phải đáp ứng yêu cầu bổ sung. Cụ thể, dự án đầu tư xây dựng sử dụng công nghệ hạn chế chuyển giao hoặc dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường có sử dụng công nghệ phải có giải trình về công nghệ theo pháp luật về chuyển giao công nghệ.

Yêu cầu này không nên được đồng nhất với nội dung lựa chọn công nghệ thông thường trong phần phân tích điều kiện thực hiện. Khi dự án thuộc nhóm phải giải trình, nội dung công nghệ phải được thực hiện theo yêu cầu của pháp luật chuyên ngành về chuyển giao công nghệ.

Do đó, ngay trong quá trình chuẩn bị dự án cần nhận diện công nghệ dự kiến sử dụng có thuộc trường hợp phải giải trình hay không. Việc xác định sớm giúp các thủ tục về công nghệ được thực hiện đồng bộ với quá trình lập Báo cáo.

Bên cạnh phần thuyết minh, thiết kế bản vẽ thi công là một cấu phần cốt lõi của Báo cáo kinh tế - kỹ thuật. Nội dung thiết kế bản vẽ thi công được thực hiện theo Điều 23 của Nghị định.

Điều này tạo ra một đặc điểm rất quan trọng của Báo cáo kinh tế - kỹ thuật: hồ sơ không chỉ trình bày lý do và phương án đầu tư mà còn có thiết kế đủ để cụ thể hóa giải pháp xây dựng ở bước tương ứng.

Thiết kế bản vẽ thi công phải thống nhất với những nội dung đã được xác định trong phần thuyết minh. Nếu thuyết minh xác định một quy mô, công suất hoặc công năng nhất định thì thiết kế phải cụ thể hóa đúng những nội dung đó.

Ngược lại, các thông số và giải pháp trong thiết kế cũng là cơ sở để xác định giải pháp thi công, tổng mức đầu tư và nhiều nội dung khác của Báo cáo.

Có thể hình dung toàn bộ Báo cáo kinh tế - kỹ thuật như một chuỗi logic liên tục. Điểm bắt đầu là nhu cầu đầu tư. Nhu cầu hình thành mục tiêu; mục tiêu xác định quy mô; quy mô kết hợp với địa điểm và quy hoạch để hình thành phương án đầu tư; điều kiện tự nhiên và kinh tế - kỹ thuật ảnh hưởng đến thiết kế; thiết kế quyết định giải pháp thi công và là một cơ sở quan trọng của chi phí; chi phí tạo thành tổng mức đầu tư; tổng mức đầu tư cần nguồn vốn; nguồn vốn phải phù hợp với tiến độ; và sau khi hoàn thành, công trình cần được vận hành, khai thác và bảo trì.

Nếu một mắt xích thay đổi, những nội dung còn lại có thể cần được xem xét lại. Ví dụ, thay đổi quy mô có thể ảnh hưởng đến diện tích đất, thiết kế, tổng mức đầu tư, tiến độ và nhu cầu vốn. Thay đổi công nghệ có thể tác động đến thiết bị, thiết kế, chi phí, đào tạo và phương án vận hành. Thay đổi địa điểm có thể ảnh hưởng đến quy hoạch, điều kiện tự nhiên, mặt bằng và giải pháp thi công.

Chính vì vậy, chất lượng của Báo cáo kinh tế - kỹ thuật không nằm ở việc mỗi mục được viết thật dài mà ở mức độ thống nhất giữa các nội dung. Tất cả phải cùng mô tả một phương án đầu tư có thể tổ chức thực hiện.

Từ góc độ kiểm soát hồ sơ, có thể rà soát Báo cáo theo một chuỗi câu hỏi. Dự án có thực sự cần thiết không? Mục tiêu là gì? Quy mô có phù hợp với mục tiêu không? Địa điểm và diện tích sử dụng đất có phù hợp với quy hoạch không? Hình thức đầu tư là gì? Điều kiện thực hiện có bảo đảm không? Công nghệ và thiết bị được lựa chọn như thế nào? Có cần giải phóng mặt bằng không? Cấp công trình được xác định ra sao? Giải pháp thiết kế có đáp ứng yêu cầu phòng cháy, chữa cháy và môi trường không? Tiến độ có khả thi không? Mô hình quản lý có phù hợp không? Giải pháp thi công và an toàn đã được xác định chưa? Tổng mức đầu tư là bao nhiêu? Nguồn vốn ở đâu? Hiệu quả dự kiến thế nào? Công trình sẽ được vận hành và bảo trì ra sao?

Khi các câu hỏi này được giải quyết nhất quán, Báo cáo mới hình thành một bức tranh tương đối đầy đủ về dự án.

Tóm lại, Báo cáo kinh tế - kỹ thuật là sự kết hợp giữa cơ sở đầu tư, giải pháp kỹ thuật và nguồn lực thực hiện. Phần thuyết minh phải làm rõ sự cần thiết, mục tiêu, quy mô công suất và sự phù hợp với chủ trương đầu tư nếu có; địa điểm, diện tích đất và sự phù hợp với quy hoạch; hình thức đầu tư; các điều kiện bảo đảm thực hiện; phương án giải phóng mặt bằng nếu phát sinh; cấp công trình; phương án và yêu cầu phòng cháy, chữa cháy; môi trường; tiến độ; hình thức quản lý; giải pháp thi công và an toàn; tổng mức đầu tư; nguồn vốn; hiệu quả kinh tế - xã hội; quốc phòng, an ninh; khả năng thu hồi vốn nếu có; đào tạo, chuyển giao công nghệ, vận hành, khai thác, duy tu, bảo trì và khả năng đáp ứng nguồn vốn bảo trì; các kiến nghị về phối hợp, ưu đãi, hỗ trợ cùng những nội dung cần thiết khác. Dự án sử dụng công nghệ hạn chế chuyển giao hoặc có nguy cơ tác động xấu đến môi trường có sử dụng công nghệ phải có giải trình về công nghệ theo pháp luật về chuyển giao công nghệ. Thiết kế bản vẽ thi công được lập theo Điều 23 của Nghị định và phải thống nhất với toàn bộ phần thuyết minh. Khi mục tiêu, quy mô, quy hoạch, thiết kế, tiến độ, chi phí, nguồn vốn và phương án vận hành được liên kết thành một chỉnh thể, Báo cáo kinh tế - kỹ thuật mới thực sự tạo được cơ sở để thẩm định, xem xét quyết định đầu tư và tổ chức triển khai dự án trong thực tế.

 

CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ & THIẾT KẾ XÂY DỰNG MINH PHƯƠNG

Địa chỉ: Số 28B Mai Thị Lựu, Phường Đa Kao, Q.1, TPHCM

Hotline:  0903649782 - (028) 3514 6426

Email: nguyenthanhmp156@gmail.com

 


Tin tức liên quan

Quy trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng
Quy trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng

78 Lượt xem

Quy trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng

Hướng dẫn lập dự án đầu tư xây dựng theo quy định mới
Hướng dẫn lập dự án đầu tư xây dựng theo quy định mới

70 Lượt xem

Hướng dẫn lập dự án đầu tư xây dựng theo quy định mới

Giấy phép xây dựng cho toàn bộ công trình thuộc dự án
Giấy phép xây dựng cho toàn bộ công trình thuộc dự án

129 Lượt xem

Xin giấy phép cho toàn bộ công trình thuộc dự án

Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới
Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới

116 Lượt xem

Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới

Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng
Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng

108 Lượt xem

Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng

Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng
Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng

97 Lượt xem

Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng


Bình luận
  • Đánh giá của bạn
Đã thêm vào giỏ hàng