Quản lý thiết kế xây dựng triển khai sau khi dự án được phê duyệt

Quản lý thiết kế xây dựng triển khai sau khi dự án được phê duyệt

Quản lý thiết kế xây dựng triển khai sau khi dự án được phê duyệt là một giai đoạn có ý nghĩa đặc biệt trong quá trình đầu tư xây dựng, bởi đây là thời điểm các định hướng, quy mô và giải pháp đã được xác lập ở giai đoạn chuẩn bị dự án tiếp tục được cụ thể hóa thành hồ sơ kỹ thuật phục vụ trực tiếp cho lựa chọn nhà thầu và thi công xây dựng. Nếu Báo cáo nghiên cứu khả thi tập trung chứng minh tính khả thi của dự án và thiết kế xây dựng trong Báo cáo nghiên cứu khả thi xác lập những giải pháp chủ yếu thì thiết kế triển khai sau khi dự án được phê duyệt phải tiếp tục phát triển các giải pháp đó đến mức độ phù hợp với bước thiết kế tương ứng. Vì vậy, việc kiểm soát thiết kế ở giai đoạn này không đơn thuần là kiểm tra hình thức hồ sơ mà là một quá trình liên tục gồm lập thiết kế, thẩm tra trong trường hợp pháp luật yêu cầu, thẩm định, xử lý các ý kiến có liên quan và cuối cùng là phê duyệt thiết kế trước khi sử dụng làm cơ sở triển khai các bước tiếp theo.

Nguyên tắc quan trọng đầu tiên là xác định đúng bước thiết kế xây dựng phải được chủ đầu tư tổ chức thẩm định. Theo quy định, chủ đầu tư thực hiện thẩm định đối với bước thiết kế xây dựng được triển khai ngay trước khi lựa chọn nhà thầu thi công xây dựng, nhà thầu EPC, EC hoặc EP. Kết quả thẩm định của bước thiết kế này là cơ sở để chủ đầu tư thực hiện phê duyệt thiết kế theo quy định.

Quy định trên cho thấy không phải tất cả các bước thiết kế sau khi dự án được phê duyệt đều phải áp dụng cùng một cơ chế thẩm định. Pháp luật tập trung yêu cầu thẩm định đối với bước thiết kế nằm ngay trước hoạt động lựa chọn nhà thầu thi công hoặc các nhà thầu thực hiện theo mô hình EPC, EC, EP. Đây là bước thiết kế có ý nghĩa trực tiếp đối với quá trình tổ chức thực hiện dự án, bởi các thông tin, giải pháp và yêu cầu kỹ thuật trong hồ sơ sẽ trở thành một trong những căn cứ quan trọng cho việc lựa chọn nhà thầu và triển khai xây dựng.

Đối với các bước thiết kế còn lại nếu dự án được tổ chức theo nhiều bước thiết kế, chủ đầu tư quyết định việc kiểm soát thiết kế theo các quy định trong hợp đồng xây dựng và pháp luật có liên quan. Như vậy, việc một bước thiết kế không thuộc trường hợp bắt buộc thẩm định theo cơ chế nêu trên không có nghĩa bước thiết kế đó không cần kiểm soát. Trách nhiệm của chủ đầu tư vẫn được duy trì nhưng phương thức kiểm soát có thể được xác định thông qua hợp đồng và các quy định pháp luật tương ứng.

Có thể hình dung cơ chế này thành hai lớp. Lớp thứ nhất là kiểm soát bắt buộc thông qua hoạt động thẩm định đối với bước thiết kế ngay trước lựa chọn nhà thầu thi công, EPC, EC hoặc EP. Lớp thứ hai là cơ chế kiểm soát đối với các bước thiết kế còn lại, do chủ đầu tư quyết định trên cơ sở hợp đồng xây dựng và pháp luật có liên quan. Cách tổ chức này vừa bảo đảm bước thiết kế có ảnh hưởng trực tiếp đến thi công được kiểm soát chặt chẽ, vừa tạo khả năng tổ chức quản lý phù hợp đối với những bước thiết kế khác.

Đối với dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư, cần xem xét thêm pháp luật PPP để xác định chủ thể thực hiện thẩm định. Trường hợp pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư quy định cơ quan có thẩm quyền thực hiện thẩm định thiết kế xây dựng thì cơ quan này trực tiếp thực hiện việc thẩm định thiết kế xây dựng triển khai sau khi dự án được phê duyệt theo phạm vi nội dung được quy định đối với dự án PPP.

Như vậy, nguyên tắc chung về trách nhiệm của chủ đầu tư có thể được điều chỉnh bởi quy định chuyên ngành của pháp luật PPP. Khi tổ chức thực hiện một dự án PPP, việc đầu tiên không chỉ là xác định bước thiết kế nào phải thẩm định mà còn phải xác định chính xác chủ thể nào có trách nhiệm thực hiện hoạt động thẩm định đó.

Sau khi xác định đúng chủ thể, vấn đề tiếp theo là xác định phạm vi nội dung phải thẩm định. Quy định không áp dụng một phạm vi hoàn toàn giống nhau cho mọi dự án mà phân biệt giữa dự án đầu tư công, dự án PPP, dự án đầu tư kinh doanh và dự án đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước.

Đối với công trình xây dựng thuộc dự án đầu tư công, nội dung thẩm định thiết kế xây dựng triển khai sau khi dự án được phê duyệt được thực hiện theo khoản 1 Điều 30 Luật Xây dựng năm 2025. Đây là căn cứ trực tiếp xác định phạm vi trách nhiệm của chủ đầu tư khi tổ chức thẩm định thiết kế.

Việc dẫn chiếu đến Luật Xây dựng có nghĩa chủ đầu tư phải thực hiện đầy đủ những nội dung thuộc phạm vi được Luật xác định, không tự ý thu hẹp phạm vi kiểm tra. Hoạt động thẩm định cần được tổ chức trên cơ sở hồ sơ thiết kế, kết quả thẩm tra trong trường hợp có yêu cầu và những tài liệu có liên quan để hình thành kết luận phục vụ việc phê duyệt.

Đối với công trình thuộc dự án PPP, nội dung thẩm định trước hết cũng được thực hiện theo khoản 1 Điều 30 Luật Xây dựng năm 2025. Tuy nhiên, phạm vi này có thể được mở rộng thêm bởi những nội dung được quy định trong hợp đồng dự án PPP nếu có.

Điểm này phản ánh đặc thù của dự án PPP. Ngoài các yêu cầu bắt buộc của pháp luật xây dựng, dự án còn được triển khai trong khuôn khổ hợp đồng PPP, trong đó có thể xác lập những yêu cầu cụ thể liên quan đến thiết kế, chất lượng, kỹ thuật hoặc trách nhiệm kiểm soát. Khi hợp đồng có quy định những nội dung cần thẩm định thì các nội dung đó phải được đưa vào phạm vi xem xét tương ứng.

Như vậy, khi thẩm định thiết kế của dự án PPP, cần kiểm tra đồng thời ít nhất hai nhóm căn cứ: nội dung thẩm định theo Luật Xây dựng và nội dung bổ sung theo hợp đồng dự án PPP nếu có. Việc chỉ xem xét một trong hai nhóm có thể dẫn đến việc phạm vi thẩm định chưa phản ánh đầy đủ yêu cầu quản lý của dự án.

Riêng đối với dự án PPP thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 57 Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 15 Điều 3 Luật số 57/2024/QH15, có thêm một yêu cầu cụ thể đối với dự toán xây dựng của hạng mục sử dụng vốn đầu tư công.

Theo đó, chủ đầu tư phải gửi dự toán xây dựng của hạng mục sử dụng vốn đầu tư công đến cơ quan chuyên môn về xây dựng để thực hiện thẩm định. Nội dung thẩm định dự toán được thực hiện theo Nghị định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng.

Quy định này đòi hỏi phải phân biệt rõ giữa thẩm định thiết kế xây dựng và thẩm định dự toán của hạng mục sử dụng vốn đầu tư công. Chủ đầu tư hoặc cơ quan có thẩm quyền theo pháp luật PPP thực hiện trách nhiệm thẩm định thiết kế trong phạm vi được giao, nhưng đối với dự toán xây dựng của hạng mục sử dụng vốn đầu tư công thuộc trường hợp nêu trên thì phải gửi cơ quan chuyên môn về xây dựng để thẩm định theo cơ chế quản lý chi phí.

Đối với một dự án PPP có nhiều nguồn vốn hoặc nhiều hạng mục, việc nhận diện chính xác hạng mục sử dụng vốn đầu tư công vì vậy có ý nghĩa rất quan trọng. Không nên đồng nhất toàn bộ dự toán của dự án với phần dự toán thuộc trường hợp phải gửi cơ quan chuyên môn về xây dựng nếu quy định chỉ đặt ra yêu cầu đối với hạng mục sử dụng vốn đầu tư công.

Đối với công trình xây dựng thuộc dự án đầu tư kinh doanh, phạm vi thẩm định được xác định theo điểm b, c và d khoản 1 Điều 30 Luật Xây dựng năm 2025. Ngoài những nội dung bắt buộc này, người quyết định đầu tư có quyền yêu cầu thẩm định thêm các nội dung khác nếu thấy cần thiết.

Cơ chế trên tạo ra sự kết hợp giữa yêu cầu bắt buộc của pháp luật và yêu cầu quản trị của người quyết định đầu tư. Những nội dung thuộc phạm vi pháp luật quy định phải được thực hiện đầy đủ; đồng thời, tùy tính chất dự án, người quyết định đầu tư có thể đặt ra những yêu cầu kiểm soát bổ sung.

Chẳng hạn, một dự án có giải pháp kỹ thuật phức tạp hoặc yêu cầu vận hành đặc thù có thể cần mức độ kiểm soát sâu hơn so với phạm vi tối thiểu. Khi đó, người quyết định đầu tư có thể yêu cầu chủ đầu tư đưa thêm những nội dung phù hợp vào quá trình thẩm định. Tuy nhiên, các nội dung bổ sung này không thay thế hoặc làm giảm những nội dung bắt buộc theo Luật Xây dựng.

Đối với công trình thuộc dự án đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước, cơ chế được xác định theo hướng chủ đầu tư tự quyết định việc thẩm định và xác định giá trị dự toán xây dựng công trình, nhưng phải bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của doanh nghiệp.

Quyền tự quyết định trong trường hợp này luôn đi kèm trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn. Chủ đầu tư không thể hiểu việc được tự quyết định đồng nghĩa với việc không cần tổ chức kiểm soát. Ngược lại, doanh nghiệp cần lựa chọn cách thức thẩm định và xác định dự toán phù hợp để vừa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật vừa bảo đảm nguồn vốn của doanh nghiệp được sử dụng có hiệu quả.

Qua bốn nhóm dự án có thể thấy nội dung thẩm định được thiết kế theo hướng phù hợp với tính chất nguồn vốn và cơ chế đầu tư. Dự án đầu tư công được kiểm soát theo phạm vi Luật Xây dựng; dự án PPP kết hợp yêu cầu của Luật Xây dựng với hợp đồng PPP và trong trường hợp đặc thù còn có cơ chế thẩm định dự toán của hạng mục sử dụng vốn đầu tư công; dự án đầu tư kinh doanh có phạm vi bắt buộc và có thể bổ sung theo yêu cầu của người quyết định đầu tư; còn doanh nghiệp nhà nước được tự quyết định việc thẩm định và xác định dự toán gắn với trách nhiệm bảo đảm hiệu quả vốn.

Trong quá trình thực hiện các nội dung này, chủ đầu tư hoặc cơ quan có thẩm quyền theo pháp luật PPP được sử dụng nhiều cơ chế hỗ trợ chuyên môn. Chủ thể thẩm định có thể đề nghị hoặc mời cơ quan có liên quan góp ý kiến, tham gia thẩm định.

Quy định này đặc biệt có ý nghĩa đối với dự án có nhiều lĩnh vực kỹ thuật hoặc có những vấn đề liên quan đến phạm vi quản lý của cơ quan khác. Việc lấy ý kiến giúp chủ đầu tư có thêm căn cứ chuyên môn trước khi đưa ra kết luận.

Bên cạnh việc mời cơ quan liên quan, chủ đầu tư hoặc cơ quan có thẩm quyền còn được thuê tổ chức, cá nhân có chuyên môn và kinh nghiệm phù hợp tham gia thẩm định thiết kế. Đây là công cụ để bổ sung nguồn lực chuyên môn khi dự án có nội dung phức tạp hoặc cần kiến thức chuyên sâu.

Tuy nhiên, cần phân biệt sự tham gia của chuyên gia hoặc tổ chức tư vấn với trách nhiệm pháp lý của chủ thể thẩm định. Việc thuê một tổ chức có chuyên môn không làm chuyển trách nhiệm thẩm định từ chủ đầu tư hoặc cơ quan có thẩm quyền sang tổ chức được thuê. Ý kiến chuyên môn là một trong những cơ sở để chủ thể có thẩm quyền xem xét và hình thành kết luận.

Bên cạnh cơ chế mời chuyên gia, pháp luật còn quy định cụ thể về thẩm tra thiết kế xây dựng đối với công trình thuộc khoản 3 Điều 29 Luật Xây dựng năm 2025. Đây là một lớp kiểm soát chuyên môn có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động thẩm định.

Chủ đầu tư có trách nhiệm lựa chọn nhà thầu tư vấn để thực hiện việc thẩm tra thiết kế. Kết quả thẩm tra được sử dụng làm cơ sở cho việc thẩm định của chủ đầu tư.

Điểm này cần được hiểu chính xác: nhà thầu tư vấn thẩm tra không phải là chủ thể thay thế chủ đầu tư thực hiện thẩm định. Nhà thầu tư vấn thực hiện hoạt động chuyên môn, lập Báo cáo kết quả thẩm tra và xác nhận các bản vẽ thuộc phạm vi thẩm tra. Chủ đầu tư tiếp nhận kết quả đó để sử dụng trong quá trình thẩm định thuộc trách nhiệm của mình.

Do thẩm tra là công việc chuyên môn có ảnh hưởng trực tiếp đến cơ sở của hoạt động thẩm định, các cá nhân tham gia thẩm tra phải đáp ứng điều kiện năng lực hành nghề theo quy định. Chủ đầu tư khi lựa chọn nhà thầu tư vấn cần kiểm soát không chỉ năng lực của tổ chức mà cả điều kiện của những cá nhân trực tiếp thực hiện.

Điều này giúp bảo đảm Báo cáo thẩm tra được hình thành bởi những người có năng lực phù hợp với lĩnh vực và nội dung công việc. Một báo cáo được lập bởi tổ chức tư vấn nhưng những cá nhân trực tiếp thực hiện không đáp ứng yêu cầu năng lực sẽ không bảo đảm cơ sở chuyên môn cần thiết theo quy định.

Báo cáo kết quả thẩm tra không mặc nhiên được chấp nhận chỉ vì đã được nhà thầu tư vấn phát hành. Trong quá trình thẩm định, nếu đơn vị thẩm định nhận thấy Báo cáo kết quả thẩm tra chưa đủ cơ sở để đưa ra kết luận thì có quyền yêu cầu bổ sung và hoàn thiện Báo cáo.

Đây là một nguyên tắc quan trọng để bảo đảm thẩm tra thực sự phục vụ thẩm định. Báo cáo thẩm tra phải cung cấp đủ thông tin, phân tích và kết luận cần thiết đối với phạm vi được giao. Nếu báo cáo còn thiếu căn cứ hoặc chưa giải quyết đầy đủ vấn đề chuyên môn thì đơn vị thẩm định không buộc phải sử dụng một kết quả chưa hoàn chỉnh mà có quyền yêu cầu nhà thầu tư vấn bổ sung.

Qua đó có thể thấy mối quan hệ giữa thẩm tra và thẩm định không phải là quan hệ tuần tự mang tính hình thức. Kết quả thẩm tra phải đạt chất lượng đủ để trở thành một trong những cơ sở của hoạt động thẩm định. Đơn vị thẩm định có trách nhiệm đánh giá mức độ đầy đủ của tài liệu này trước khi sử dụng.

Nội dung Báo cáo kết quả thẩm tra được thực hiện theo Mẫu số 11 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định. Việc quy định mẫu giúp chuẩn hóa cách thức thể hiện kết quả, tạo điều kiện cho chủ đầu tư kiểm tra và sử dụng trong quá trình thẩm định.

Cùng với Báo cáo kết quả thẩm tra, các bản vẽ thuộc phạm vi đã được thẩm tra phải được đóng dấu theo Mẫu số 14 Phụ lục I. Dấu thẩm tra trên bản vẽ có ý nghĩa xác định chính xác phiên bản và phạm vi hồ sơ đã được nhà thầu tư vấn kiểm tra.

Điều này đặc biệt quan trọng trong quản lý thiết kế bởi hồ sơ có thể trải qua nhiều lần chỉnh sửa. Nếu không xác định rõ bản vẽ nào đã được thẩm tra, có thể phát sinh tình trạng Báo cáo kết quả thẩm tra được lập trên một phiên bản nhưng hồ sơ sử dụng cho thẩm định hoặc thi công lại là phiên bản khác.

Vì vậy, việc đóng dấu không chỉ mang tính thủ tục mà còn hỗ trợ kiểm soát tính đồng nhất giữa Báo cáo thẩm tra và bản vẽ đã được xem xét.

Sau khi có đầy đủ hồ sơ, kết quả thẩm tra trong trường hợp cần thiết, ý kiến của các cơ quan, tổ chức hoặc chuyên gia có liên quan, chủ đầu tư tiến hành tổng hợp để hoàn thành hoạt động thẩm định.

Kết quả thẩm định thiết kế xây dựng triển khai sau khi dự án được phê duyệt của chủ đầu tư được thể hiện theo Mẫu số 12 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định. Đây là văn bản chính thức phản ánh kết quả của quá trình chủ đầu tư xem xét thiết kế trước khi thực hiện phê duyệt.

Việc có thông báo kết quả thẩm định chưa đồng nghĩa thiết kế đương nhiên được sử dụng ngay. Sau khi thẩm định, chủ đầu tư còn phải tổng hợp các văn bản của cơ quan, tổ chức có liên quan và thực hiện những yêu cầu được nêu nếu có.

Nếu kết quả thẩm định, kết quả thẩm tra hoặc ý kiến của cơ quan liên quan đặt ra yêu cầu phải chỉnh sửa, bổ sung thì chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức xử lý trước khi hoàn thành việc phê duyệt thiết kế theo Điều 42 của Nghị định.

Đây là bước nối giữa thẩm định và phê duyệt. Nếu thẩm định có chức năng xem xét và đưa ra kết luận thì phê duyệt là việc chủ đầu tư chính thức xác nhận hồ sơ thiết kế sau khi những vấn đề cần thiết đã được giải quyết.

Từ đây có thể phân biệt rõ ba hoạt động thường dễ bị nhầm lẫn là thẩm tra, thẩm định và phê duyệt thiết kế. Thẩm tra là hoạt động chuyên môn do nhà thầu tư vấn được chủ đầu tư lựa chọn thực hiện đối với trường hợp thuộc diện phải thẩm tra. Kết quả của hoạt động này là Báo cáo kết quả thẩm tra và các bản vẽ được xác nhận thẩm tra.

Thẩm định là hoạt động thuộc trách nhiệm của chủ đầu tư hoặc cơ quan có thẩm quyền theo pháp luật PPP trong trường hợp tương ứng. Trong quá trình thẩm định, chủ thể thực hiện có thể sử dụng Báo cáo thẩm tra, ý kiến cơ quan liên quan và ý kiến của các tổ chức, cá nhân có chuyên môn để đưa ra kết luận.

Phê duyệt là bước tiếp theo sau thẩm định, được thực hiện sau khi chủ đầu tư tổng hợp kết quả và xử lý những yêu cầu liên quan. Do đó, Báo cáo thẩm tra không thay thế kết quả thẩm định và kết quả thẩm định cũng không tự động thay thế việc phê duyệt thiết kế.

Nếu hệ thống hóa toàn bộ quy trình, bước đầu tiên là xác định thiết kế được triển khai sau khi dự án đã được phê duyệt theo phương án và số bước thiết kế đã được lựa chọn. Chủ đầu tư cần nhận diện bước thiết kế nằm ngay trước lựa chọn nhà thầu thi công, EPC, EC hoặc EP để tổ chức thẩm định.

Bước tiếp theo là xác định loại dự án và phạm vi nội dung thẩm định tương ứng. Nếu là dự án đầu tư công thì thực hiện theo khoản 1 Điều 30 Luật Xây dựng năm 2025. Nếu là PPP thì ngoài nội dung theo Luật còn xem xét hợp đồng dự án và cơ chế riêng đối với dự toán hạng mục sử dụng vốn đầu tư công trong trường hợp được quy định. Nếu là dự án đầu tư kinh doanh thì thực hiện phạm vi bắt buộc và yêu cầu bổ sung của người quyết định đầu tư nếu có. Nếu là dự án đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước thì chủ đầu tư tự quyết định việc thẩm định, xác định dự toán và chịu trách nhiệm bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn.

Tiếp theo, cần xác định công trình có thuộc trường hợp phải thẩm tra theo khoản 3 Điều 29 Luật Xây dựng năm 2025 hay không. Nếu có, chủ đầu tư lựa chọn nhà thầu tư vấn phù hợp, kiểm tra điều kiện năng lực của các cá nhân tham gia và tổ chức thẩm tra.

Báo cáo kết quả thẩm tra được lập theo Mẫu số 11, các bản vẽ được đóng dấu theo Mẫu số 14. Nếu Báo cáo chưa đủ cơ sở cho hoạt động thẩm định, đơn vị thẩm định yêu cầu bổ sung, hoàn thiện.

Trong quá trình này, nếu cần thiết, chủ đầu tư hoặc cơ quan có thẩm quyền theo pháp luật PPP có thể lấy ý kiến các cơ quan liên quan, mời các cơ quan tham gia hoặc thuê thêm tổ chức, cá nhân có chuyên môn, kinh nghiệm phù hợp.

Sau khi có đủ cơ sở, hoạt động thẩm định được hoàn thành và kết quả được thể hiện theo Mẫu số 12. Chủ đầu tư tiếp tục tổng hợp các văn bản, xử lý yêu cầu, tổ chức chỉnh sửa thiết kế nếu cần và thực hiện phê duyệt theo Điều 42.

Toàn bộ quy trình vì vậy có thể được khái quát theo chuỗi: thiết kế được lập, thiết kế được thẩm tra nếu thuộc trường hợp phải thẩm tra, hồ sơ và kết quả thẩm tra được sử dụng để thẩm định, các ý kiến và yêu cầu được tổng hợp, hồ sơ được hoàn thiện và cuối cùng thiết kế được phê duyệt.

Chuỗi công việc này giúp hình thành nhiều lớp kiểm soát nhưng trách nhiệm trung tâm vẫn thuộc về chủ đầu tư. Nhà thầu tư vấn thiết kế chịu trách nhiệm đối với sản phẩm thiết kế; nhà thầu tư vấn thẩm tra thực hiện trách nhiệm chuyên môn trong phạm vi thẩm tra; các cơ quan, tổ chức và chuyên gia có thể cung cấp ý kiến; nhưng chủ đầu tư là chủ thể tổ chức, tổng hợp và thực hiện trách nhiệm thẩm định, phê duyệt theo phạm vi được pháp luật giao.

Việc cho phép thuê tổ chức, cá nhân tham gia thẩm định vì vậy cần được hiểu là bổ sung nguồn lực chứ không phải chuyển giao toàn bộ trách nhiệm. Chủ đầu tư vẫn phải kiểm soát hồ sơ và chịu trách nhiệm đối với hoạt động thuộc thẩm quyền của mình.

Đối với các bước thiết kế không phải bước ngay trước lựa chọn nhà thầu, trách nhiệm kiểm soát của chủ đầu tư cũng không chấm dứt. Việc kiểm soát được tổ chức thông qua hợp đồng xây dựng và pháp luật có liên quan. Điều này đặc biệt cần thiết đối với dự án có nhiều bước thiết kế, bởi các bước phát triển thiết kế phải duy trì tính thống nhất với nhau và với nội dung dự án đã được phê duyệt.

Từ góc độ thực tiễn, việc tổ chức thẩm định thiết kế trước lựa chọn nhà thầu còn tạo ra một điểm kiểm soát quan trọng trước khi dự án chuyển sang giai đoạn thi công. Nếu những bất cập của thiết kế không được nhận diện ở giai đoạn này thì chúng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình lựa chọn nhà thầu, xác định phạm vi công việc và triển khai xây dựng.

Vì vậy, thẩm định thiết kế không nên được nhìn nhận chỉ là bước hoàn thiện thủ tục hành chính. Đây là hoạt động quản lý chuyên môn giúp chủ đầu tư xác định hồ sơ thiết kế đã có đủ cơ sở để được phê duyệt và sử dụng cho giai đoạn tiếp theo hay chưa.

Đối với dự án PPP, việc kết hợp pháp luật xây dựng, pháp luật PPP và hợp đồng dự án càng đòi hỏi quá trình kiểm soát phải được tổ chức có hệ thống. Đặc biệt, những dự án có hạng mục sử dụng vốn đầu tư công cần nhận diện riêng trách nhiệm gửi dự toán đến cơ quan chuyên môn về xây dựng để tránh nhầm lẫn giữa các thủ tục.

Đối với doanh nghiệp nhà nước, quyền chủ động trong việc thẩm định và xác định dự toán phải gắn với trách nhiệm quản trị vốn. Hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu xuyên suốt và là căn cứ quan trọng để doanh nghiệp tổ chức cơ chế kiểm soát nội bộ phù hợp.

Nhìn tổng thể, quy định về thẩm định thiết kế xây dựng triển khai sau khi dự án được phê duyệt thiết lập một hệ thống kiểm soát có sự phân công tương đối rõ giữa chủ đầu tư, cơ quan có thẩm quyền đối với dự án PPP, nhà thầu tư vấn thẩm tra và các tổ chức, cá nhân có chuyên môn. Mỗi chủ thể tham gia một phần công việc khác nhau nhưng các kết quả phải được tổng hợp trước khi thiết kế được phê duyệt.

Tóm lại, sau khi dự án được phê duyệt, chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức thẩm định bước thiết kế xây dựng được triển khai ngay trước khi lựa chọn nhà thầu thi công, EPC, EC hoặc EP để làm cơ sở phê duyệt. Các bước thiết kế còn lại được kiểm soát theo hợp đồng xây dựng và pháp luật có liên quan. Đối với dự án PPP, nếu pháp luật PPP giao cơ quan có thẩm quyền thực hiện thẩm định thì cơ quan đó thực hiện theo phạm vi tương ứng. Nội dung thẩm định được xác định khác nhau đối với dự án đầu tư công, PPP, đầu tư kinh doanh và dự án đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. Trong quá trình thẩm định, chủ đầu tư hoặc cơ quan có thẩm quyền được lấy ý kiến cơ quan liên quan, mời tham gia hoặc thuê tổ chức, cá nhân có chuyên môn và kinh nghiệm. Đối với công trình thuộc trường hợp phải thẩm tra, chủ đầu tư lựa chọn nhà thầu tư vấn và bảo đảm cá nhân tham gia đáp ứng điều kiện năng lực; Báo cáo kết quả thẩm tra được lập theo Mẫu số 11, bản vẽ được đóng dấu theo Mẫu số 14 và phải được bổ sung nếu chưa đủ cơ sở để kết luận thẩm định. Kết quả thẩm định của chủ đầu tư được thể hiện theo Mẫu số 12. Trên cơ sở đó, chủ đầu tư tổng hợp các văn bản có liên quan, thực hiện những yêu cầu được đặt ra và phê duyệt thiết kế theo Điều 42. Qua chuỗi thiết kế – thẩm tra – thẩm định – hoàn thiện – phê duyệt, hồ sơ thiết kế được kiểm soát trước khi trở thành cơ sở trực tiếp cho lựa chọn nhà thầu và thi công, đồng thời trách nhiệm của từng chủ thể được phân định rõ trong toàn bộ quá trình quản lý thiết kế xây dựng sau khi dự án được phê duyệt.

 

CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ & THIẾT KẾ XÂY DỰNG MINH PHƯƠNG

Địa chỉ: Số 28B Mai Thị Lựu, Phường Đa Kao, Q.1, TPHCM

Hotline:  0903649782 - (028) 3514 6426

Email: nguyenthanhmp156@gmail.com

 


Tin tức liên quan

Quy trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng
Quy trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng

78 Lượt xem

Quy trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng

Hướng dẫn lập dự án đầu tư xây dựng theo quy định mới
Hướng dẫn lập dự án đầu tư xây dựng theo quy định mới

70 Lượt xem

Hướng dẫn lập dự án đầu tư xây dựng theo quy định mới

Giấy phép xây dựng cho toàn bộ công trình thuộc dự án
Giấy phép xây dựng cho toàn bộ công trình thuộc dự án

129 Lượt xem

Xin giấy phép cho toàn bộ công trình thuộc dự án

Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới
Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới

116 Lượt xem

Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới

Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng
Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng

108 Lượt xem

Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng

Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng
Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng

97 Lượt xem

Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng


Bình luận
  • Đánh giá của bạn
Đã thêm vào giỏ hàng