Quy hoạch được sử dụng làm căn cứ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi,
quy hoạch được sử dụng làm căn cứ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi,
quy hoạch được sử dụng làm căn cứ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi,
Quy hoạch sử dụng làm căn cứ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi và Báo cáo kinh tế - kỹ thuật là một trong những cơ sở quan trọng để xác định dự án đầu tư xây dựng có đủ điều kiện chuyển từ định hướng phát triển sang giai đoạn nghiên cứu, cụ thể hóa và chuẩn bị đầu tư hay không. Tuy nhiên, việc xác định căn cứ quy hoạch không thể thực hiện theo cách máy móc rằng mọi dự án đều phải dựa trên cùng một loại quy hoạch hoặc nhất thiết phải có quy hoạch chi tiết. Tùy thuộc tính chất dự án, loại công trình, khu vực xây dựng, lĩnh vực kết cấu hạ tầng và mức độ cụ thể hóa của hệ thống quy hoạch, pháp luật cho phép sử dụng những loại quy hoạch khác nhau làm căn cứ lập dự án. Trong một số trường hợp, thiết kế đô thị riêng, quy chế quản lý kiến trúc hoặc phương án tuyến, vị trí công trình, mặt bằng tổng thể đã được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận cũng có thể trở thành căn cứ. Đặc biệt, đối với một số dự án thực hiện trên cơ sở công trình hiện hữu mà vẫn giữ nguyên mục tiêu, địa điểm và quy mô, pháp luật còn xác định không yêu cầu phải căn cứ vào quy hoạch để lập và thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật.
Do đó, vấn đề quan trọng nhất khi chuẩn bị dự án không phải là tìm một đồ án quy hoạch bất kỳ có liên quan đến khu vực xây dựng, mà phải xác định chính xác loại căn cứ mà quy định cho phép sử dụng đối với dự án cụ thể. Việc lựa chọn đúng căn cứ ngay từ đầu giúp phần thuyết minh của Báo cáo có cơ sở để đánh giá sự phù hợp của dự án, đồng thời tránh việc yêu cầu thêm những lớp quy hoạch không cần thiết hoặc sử dụng một loại quy hoạch không đúng với tính chất của dự án.
Đối với dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khung, căn cứ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật có thể là quy hoạch chung, quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật theo pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn. Việc quy định nhiều loại quy hoạch có thể được sử dụng phản ánh đặc điểm của hạ tầng kỹ thuật khung, bởi loại công trình này thường có phạm vi phục vụ rộng và có quan hệ trực tiếp với cấu trúc phát triển chung của đô thị hoặc khu vực.
Quy hoạch chung có thể xác lập những định hướng lớn về phát triển không gian và hệ thống hạ tầng. Quy hoạch phân khu cụ thể hóa các định hướng đó trong từng khu vực. Quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật tập trung sâu hơn vào mạng lưới và hệ thống hạ tầng thuộc lĩnh vực tương ứng. Vì vậy, tùy trường hợp, dự án hạ tầng kỹ thuật khung có thể được hình thành và có đủ căn cứ từ một trong những loại quy hoạch này.
Điểm cần chú ý là quy định không đặt ra yêu cầu phải đồng thời có đầy đủ cả quy hoạch chung, quy hoạch phân khu và quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật mới được lập dự án. Đây là các loại quy hoạch được xác định theo cơ chế lựa chọn phù hợp với từng trường hợp. Khi một trong những loại quy hoạch tương ứng đã cung cấp đủ cơ sở theo quy định thì có thể được sử dụng làm căn cứ lập Báo cáo.
Đối với dự án công trình ngầm, cách xác định căn cứ được thiết kế riêng phù hợp với đặc điểm tổ chức không gian dưới mặt đất. Dự án đầu tư xây dựng công trình công cộng ngầm, công trình giao thông ngầm và công trình xây dựng phục vụ mục đích kết nối không gian ngầm được xác định tại quy hoạch không gian ngầm có thể sử dụng quy hoạch không gian ngầm, quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật hoặc quy hoạch chung đô thị làm căn cứ theo pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn.
Không gian ngầm có quan hệ trực tiếp với công trình trên mặt đất, hệ thống giao thông, hạ tầng kỹ thuật và tổ chức không gian đô thị. Vì vậy, dự án công trình ngầm không thể được nghiên cứu như một công trình hoàn toàn biệt lập. Căn cứ quy hoạch phải cho phép xác định được vị trí và mối quan hệ của công trình với hệ thống chung.
Quy hoạch không gian ngầm có vai trò trực tiếp trong việc tổ chức các khu vực và công trình dưới mặt đất. Trong khi đó, quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật hoặc quy hoạch chung đô thị có thể xác lập những nội dung cần thiết đối với công trình ngầm tương ứng. Việc lựa chọn căn cứ phải phù hợp với trường hợp cụ thể của dự án.
Đối với dự án đầu tư xây dựng được xác định tại quy hoạch chi tiết ngành về kết cấu hạ tầng, quy hoạch chi tiết ngành về kết cấu hạ tầng theo pháp luật về quy hoạch được sử dụng làm căn cứ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật.
Đây là nhóm dự án mà quá trình hình thành có mối liên hệ trực tiếp với quy hoạch của ngành. Khi quy hoạch chi tiết ngành đã xác định công trình hoặc dự án kết cấu hạ tầng thì việc lập dự án tiếp tục cụ thể hóa những nội dung đó thành phương án đầu tư có khả năng thực hiện.
Tuy nhiên, quy định còn xác định một trường hợp đặc biệt đối với dự án được hình thành từ quy hoạch ngành về kết cấu hạ tầng. Nếu cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch chi tiết ngành đồng thời là cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc phê duyệt dự án thì quy hoạch ngành được sử dụng làm căn cứ lập dự án.
Điều kiện về sự đồng nhất thẩm quyền ở đây có ý nghĩa quan trọng. Không phải mọi dự án được đề cập trong quy hoạch ngành đều mặc nhiên sử dụng quy hoạch ngành làm căn cứ thay cho quy hoạch chi tiết ngành. Cần kiểm tra đồng thời hai yếu tố: dự án phải được hình thành từ quy hoạch ngành về kết cấu hạ tầng và cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch chi tiết ngành phải đồng thời là cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc phê duyệt dự án.
Khi hai điều kiện đó được đáp ứng, quy hoạch ngành có thể trực tiếp trở thành căn cứ lập dự án. Cơ chế này giúp tránh việc phải tạo thêm một lớp quy hoạch khi quan hệ về nội dung và thẩm quyền đã đáp ứng điều kiện mà quy định đặt ra.
Đối với dự án đầu tư xây dựng về phát triển kết cấu hạ tầng được xác định tại quy hoạch tỉnh, căn cứ được sử dụng là quy hoạch tỉnh. Quy định này cần được hiểu đúng phạm vi: không phải mọi dự án xây dựng nằm trên địa bàn một tỉnh đều sử dụng quy hoạch tỉnh làm căn cứ, mà dự án phải là dự án về phát triển kết cấu hạ tầng được xác định tại chính quy hoạch tỉnh.
Như vậy, yếu tố địa giới hành chính không phải điều kiện duy nhất. Quan trọng hơn là mối quan hệ nội dung giữa dự án và quy hoạch tỉnh. Khi quy hoạch tỉnh đã xác định dự án phát triển kết cấu hạ tầng tương ứng thì có thể sử dụng quy hoạch đó để chuyển sang bước nghiên cứu khả thi hoặc lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật.
Đối với dự án đầu tư xây dựng trong khu vực bảo vệ di tích hoặc di sản thế giới, căn cứ được xác định theo một cơ chế chuyên biệt. Nếu dự án được hình thành từ quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích thì chính quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích được sử dụng làm căn cứ.
Điều này phản ánh yêu cầu bảo đảm sự thống nhất giữa đầu tư xây dựng và công tác bảo vệ giá trị di tích, di sản. Những khu vực này có đặc điểm khác với khu vực xây dựng thông thường, bởi giải pháp đầu tư không chỉ phải đáp ứng yêu cầu sử dụng mà còn phải được đặt trong định hướng bảo quản, tu bổ và phục hồi đã được xác lập.
Vì vậy, khi chuẩn bị dự án trong khu vực bảo vệ di tích hoặc di sản thế giới, cần kiểm tra dự án có được hình thành từ quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích hay không. Nếu đáp ứng điều kiện này thì đây là căn cứ trực tiếp cho quá trình lập Báo cáo.
Đối với dự án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng, quy hoạch hệ thống du lịch hoặc quy hoạch lâm nghiệp được sử dụng làm căn cứ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật.
Nhóm dự án này đồng thời có yếu tố phát triển du lịch và sử dụng không gian rừng nên căn cứ được lựa chọn phải phản ánh được đặc điểm đó. Quy hoạch hệ thống du lịch thể hiện định hướng phát triển du lịch, còn quy hoạch lâm nghiệp gắn với tổ chức và quản lý tài nguyên rừng.
Việc cho phép sử dụng một trong hai loại quy hoạch tương ứng tạo cơ sở để dự án được nghiên cứu theo đúng tính chất của lĩnh vực và không gian thực hiện. Tuy nhiên, việc sử dụng loại quy hoạch nào phải được xác định phù hợp với dự án cụ thể chứ không phải lựa chọn tùy ý.
Đối với dự án được đầu tư xây dựng tại khu vực đã ổn định về chức năng sử dụng đất và không yêu cầu lập quy hoạch chi tiết theo pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn, thiết kế đô thị riêng hoặc quy chế quản lý kiến trúc có thể được sử dụng làm căn cứ.
Đây là một cơ chế có ý nghĩa thực tiễn rất lớn tại những khu vực đã phát triển ổn định. Khi chức năng sử dụng đất đã được xác lập và pháp luật không yêu cầu lập thêm quy hoạch chi tiết thì việc bắt buộc lập một đồ án quy hoạch mới chỉ để làm căn cứ cho từng dự án có thể không cần thiết.
Trong trường hợp đó, thiết kế đô thị riêng hoặc quy chế quản lý kiến trúc có thể cung cấp những yêu cầu cần thiết về hình thức không gian, kiến trúc, cảnh quan và tổ chức công trình để dự án được nghiên cứu.
Điều kiện cần được kiểm tra ở đây gồm hai nội dung có quan hệ chặt chẽ. Thứ nhất, khu vực phải đã ổn định về chức năng sử dụng đất. Thứ hai, dự án không thuộc trường hợp phải lập quy hoạch chi tiết theo pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn.
Chỉ khi đáp ứng điều kiện tương ứng mới có cơ sở sử dụng thiết kế đô thị riêng hoặc quy chế quản lý kiến trúc theo trường hợp này.
Một cơ chế khác được áp dụng đối với dự án đầu tư xây dựng tại khu vực không thuộc trường hợp phải lập quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết theo pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn hoặc quy hoạch chi tiết ngành theo pháp luật về quy hoạch.
Trong trường hợp đó, phương án tuyến công trình, vị trí công trình hoặc mặt bằng tổng thể của dự án được cơ quan có thẩm quyền theo khoản 4 Điều 73 của Nghị định chấp thuận được sử dụng làm căn cứ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật.
Quy định này giải quyết tình huống dự án cần có một cơ sở không gian để nghiên cứu nhưng khu vực lại không thuộc trường hợp pháp luật yêu cầu phải lập những loại quy hoạch nói trên. Khi đó, thay vì bắt buộc tạo thêm một đồ án quy hoạch không thuộc diện phải lập, pháp luật cho phép sử dụng phương án cụ thể của dự án sau khi đã được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận.
Đối với công trình theo tuyến, căn cứ có thể là phương án tuyến. Đối với công trình có vị trí xác định, căn cứ có thể là vị trí công trình được chấp thuận. Đối với dự án gồm nhiều hạng mục cần tổ chức trên một khu vực, mặt bằng tổng thể có thể trở thành căn cứ tương ứng.
Điểm cốt lõi là phương án tuyến, vị trí công trình hoặc mặt bằng tổng thể phải được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận theo quy định. Một phương án mới ở mức đề xuất nội bộ của cơ quan chuẩn bị dự án hoặc tư vấn chưa thể được xem là căn cứ thuộc trường hợp này nếu chưa hoàn thành yêu cầu chấp thuận.
Sau khi loại trừ các trường hợp đặc thù nêu trên, đối với các dự án còn lại, quy hoạch chi tiết hoặc quy hoạch tổng mặt bằng theo pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn được sử dụng làm căn cứ.
Quy định này tạo thành một cơ chế bao quát cuối cùng. Thay vì áp dụng quy hoạch chi tiết cho tất cả dự án ngay từ đầu, trước hết cần kiểm tra dự án có thuộc một trong những trường hợp sử dụng căn cứ chuyên biệt hay không. Nếu không thuộc thì mới xác định quy hoạch chi tiết hoặc quy hoạch tổng mặt bằng là căn cứ tương ứng.
Vì vậy, cách xác định đúng căn cứ quy hoạch nên bắt đầu bằng việc phân loại dự án chứ không bắt đầu bằng câu hỏi “đã có quy hoạch chi tiết hay chưa”.
Nếu là dự án hạ tầng kỹ thuật khung thì xem xét quy hoạch chung, quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật. Nếu là công trình công cộng ngầm, giao thông ngầm hoặc công trình kết nối không gian ngầm thuộc trường hợp được quy định thì xem xét quy hoạch không gian ngầm, quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật hoặc quy hoạch chung đô thị.
Nếu là dự án kết cấu hạ tầng được xác định tại quy hoạch chi tiết ngành thì căn cứ vào quy hoạch chi tiết ngành. Nếu dự án được hình thành từ quy hoạch ngành và đáp ứng điều kiện về thẩm quyền thì có thể sử dụng quy hoạch ngành.
Nếu là dự án phát triển kết cấu hạ tầng được xác định trong quy hoạch tỉnh thì sử dụng quy hoạch tỉnh. Nếu dự án nằm trong khu vực bảo vệ di tích hoặc di sản thế giới và được hình thành từ quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích thì sử dụng quy hoạch đó.
Nếu là dự án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng hoặc giải trí trong rừng thì xem xét quy hoạch hệ thống du lịch hoặc quy hoạch lâm nghiệp. Nếu dự án nằm trong khu vực đã ổn định về chức năng sử dụng đất và không yêu cầu lập quy hoạch chi tiết thì xem xét thiết kế đô thị riêng hoặc quy chế quản lý kiến trúc.
Nếu khu vực không thuộc trường hợp phải lập quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết hoặc quy hoạch chi tiết ngành thì xác định khả năng sử dụng phương án tuyến, vị trí công trình hoặc mặt bằng tổng thể đã được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận. Các dự án còn lại mới chuyển sang sử dụng quy hoạch chi tiết hoặc quy hoạch tổng mặt bằng.
Cách tiếp cận này giúp hình thành một chuỗi kiểm tra tương đối rõ ràng và tránh hai cách hiểu không phù hợp. Cách hiểu thứ nhất là mọi dự án đều phải chờ quy hoạch chi tiết. Cách hiểu thứ hai là chỉ cần có bất kỳ quy hoạch nào đề cập đến khu vực thì đều có thể sử dụng làm căn cứ. Quy định thực tế xác định căn cứ theo từng nhóm dự án cụ thể.
Một điểm cũng cần phân biệt là quy hoạch được sử dụng làm căn cứ lập dự án và các quy hoạch có liên quan không hoàn toàn là một khái niệm. Một dự án có thể có một loại quy hoạch được sử dụng trực tiếp làm căn cứ lập Báo cáo nhưng đồng thời vẫn phải được xem xét về sự phù hợp với các quy hoạch liên quan theo nội dung và yêu cầu tương ứng.
Do đó, khi lập phần thuyết minh của Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật, việc xác định đúng quy hoạch làm căn cứ là bước đầu tiên. Sau đó mới xem xét sự phù hợp của dự án với căn cứ đó và những quy hoạch liên quan.
Bên cạnh hệ thống các căn cứ nêu trên, quy định còn thiết lập một ngoại lệ rất quan trọng đối với dự án tác động đến công trình hiện có.
Theo đó, dự án đầu tư xây dựng để sửa chữa, tu bổ, hoàn thiện, nâng cấp, cải tạo, mở rộng công trình hiện có hoặc xây dựng mới công trình thay thế công trình hiện có mà vẫn giữ nguyên mục tiêu, địa điểm và quy mô của công trình hiện có thì không yêu cầu căn cứ vào quy hoạch để lập và thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật.
Đây là một ngoại lệ cần được nhận diện đúng ngay từ đầu bởi nếu dự án đáp ứng đầy đủ điều kiện thì không cần tiếp tục tìm kiếm một loại quy hoạch trong danh mục để làm căn cứ cho việc lập và thẩm định Báo cáo.
Tuy nhiên, phạm vi ngoại lệ phải được áp dụng đúng với điều kiện được quy định. Không phải mọi dự án sửa chữa, cải tạo hoặc nâng cấp công trình hiện có đều tự động không cần căn cứ vào quy hoạch.
Điều kiện quan trọng là phải giữ nguyên mục tiêu, địa điểm và quy mô của công trình hiện có. Ba yếu tố này tạo thành giới hạn để xác định dự án có được áp dụng ngoại lệ hay không.
Mục tiêu phản ánh chức năng và mục đích cơ bản mà công trình phục vụ. Địa điểm xác định không gian công trình tồn tại. Quy mô phản ánh phạm vi cơ bản của công trình theo điều kiện được quy định.
Nếu dự án sửa chữa hoặc cải tạo nhưng đồng thời thay đổi mục tiêu, chuyển sang địa điểm khác hoặc thay đổi quy mô theo hướng không còn đáp ứng điều kiện giữ nguyên thì cần xem xét lại khả năng áp dụng ngoại lệ.
Ngược lại, nếu việc đầu tư chỉ nhằm sửa chữa, tu bổ, hoàn thiện, nâng cấp, cải tạo hoặc thực hiện các công việc thuộc phạm vi quy định mà mục tiêu, địa điểm và quy mô của công trình hiện có vẫn được giữ nguyên thì không yêu cầu căn cứ vào quy hoạch để lập và thẩm định Báo cáo.
Đặc biệt, ngoại lệ còn bao gồm trường hợp xây dựng mới công trình thay thế công trình hiện có. Điều này cho thấy việc “xây dựng mới” về mặt kỹ thuật không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với việc hình thành một dự án mới về mục tiêu, không gian và quy mô.
Một công trình hiện hữu có thể cần được thay thế bằng công trình xây dựng mới nhưng nếu công trình thay thế vẫn giữ nguyên mục tiêu, địa điểm và quy mô thì không yêu cầu căn cứ vào quy hoạch theo trường hợp này.
Điểm cần kiểm soát không phải là công trình có được phá bỏ và xây mới hay không, mà là sau khi thay thế, ba yếu tố cơ bản có được giữ nguyên hay không.
Có thể hệ thống hóa việc xác định căn cứ quy hoạch theo hai bước lớn. Bước đầu tiên là kiểm tra dự án có thuộc trường hợp ngoại lệ đối với công trình hiện hữu hay không. Nếu dự án là sửa chữa, tu bổ, hoàn thiện, nâng cấp, cải tạo, mở rộng hoặc xây mới thay thế công trình hiện hữu và đồng thời đáp ứng điều kiện giữ nguyên mục tiêu, địa điểm và quy mô thì không yêu cầu căn cứ vào quy hoạch để lập, thẩm định Báo cáo.
Nếu không thuộc ngoại lệ, bước thứ hai mới là phân loại dự án để xác định loại quy hoạch hoặc căn cứ tương ứng.
Trình tự này có ý nghĩa thực tế bởi nó giúp tránh việc dành thời gian xác định quy hoạch chi tiết cho một dự án mà pháp luật vốn không yêu cầu phải căn cứ vào quy hoạch.
Sau khi xác định dự án không thuộc ngoại lệ, cần xem xét lần lượt tính chất công trình. Dự án hạ tầng kỹ thuật khung, công trình ngầm, kết cấu hạ tầng ngành, hạ tầng được xác định trong quy hoạch tỉnh, dự án di tích, dự án du lịch trong rừng và các dự án tại khu vực đã ổn định đều có cơ chế xác định căn cứ riêng.
Tiếp đó, cần xem xét khu vực dự án có thuộc trường hợp phải lập quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết hoặc quy hoạch chi tiết ngành hay không. Nếu không thuộc, phương án tuyến, vị trí hoặc mặt bằng tổng thể được chấp thuận có thể trở thành căn cứ. Nếu không thuộc bất kỳ trường hợp đặc thù nào thì sử dụng quy hoạch chi tiết hoặc quy hoạch tổng mặt bằng.
Cách tiếp cận này cũng cho thấy mối quan hệ giữa quy định về căn cứ quy hoạch và quy định cho phép thay đổi một số nội dung trong quá trình lập Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật. Sau khi xác định được quy hoạch nào là căn cứ, cơ quan chuẩn bị dự án mới có thể đánh giá những nội dung nào phải tuân thủ và phạm vi nào có thể được cụ thể hóa hoặc điều chỉnh theo quy định.
Do đó, xác định quy hoạch làm căn cứ không phải một thủ tục mang tính hình thức. Đây là bước xác lập “khung không gian” mà phương án dự án sẽ được phát triển bên trong.
Nếu lựa chọn sai căn cứ, việc đánh giá sự phù hợp của địa điểm, chức năng sử dụng đất, phương án tuyến hoặc mặt bằng công trình có thể không chính xác. Ngược lại, nếu yêu cầu một cấp độ quy hoạch cao hơn mức pháp luật đặt ra thì có thể phát sinh thêm thủ tục không cần thiết.
Quy định vì vậy thể hiện nguyên tắc tương xứng giữa mức độ quy hoạch và đặc điểm dự án. Hạ tầng khung được đặt trong các quy hoạch có phạm vi rộng; công trình ngầm được xem xét trong cấu trúc không gian ngầm và đô thị; hạ tầng ngành được gắn với quy hoạch ngành; dự án trong di tích gắn với quy hoạch bảo tồn; dự án du lịch trong rừng gắn với quy hoạch du lịch hoặc lâm nghiệp; khu vực đô thị đã ổn định có thể dựa vào công cụ thiết kế và quản lý kiến trúc; còn nơi không phải lập quy hoạch chi tiết có thể sử dụng phương án cụ thể đã được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận.
Từ góc độ thực hành, trước khi lập Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật, cơ quan chuẩn bị dự án nên xác định lần lượt các câu hỏi cốt lõi: dự án là đầu tư mới hay tác động đến công trình hiện hữu; nếu là công trình hiện hữu thì mục tiêu, địa điểm và quy mô có được giữ nguyên hay không; nếu không thuộc ngoại lệ thì dự án thuộc loại công trình nào; dự án đã được xác định trong quy hoạch nào; khu vực có yêu cầu lập quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chi tiết hay không; và có căn cứ thay thế được pháp luật công nhận như thiết kế đô thị, quy chế kiến trúc, phương án tuyến, vị trí công trình hoặc mặt bằng tổng thể hay không.
Chỉ sau khi giải quyết các câu hỏi này mới có thể xác định chính xác cơ sở quy hoạch của dự án.
Nhìn tổng thể, hệ thống quy định không đặt ra một “cửa duy nhất” về quy hoạch đối với mọi dự án đầu tư xây dựng. Thay vào đó, căn cứ được phân tầng và lựa chọn theo bản chất của từng dự án. Cách thiết kế này vừa bảo đảm hoạt động đầu tư xây dựng tuân thủ định hướng phát triển không gian và hạ tầng, vừa tránh việc áp dụng những yêu cầu quy hoạch không cần thiết cho các trường hợp đã có căn cứ phù hợp khác.
Tóm lại, việc xác định quy hoạch sử dụng làm căn cứ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi và Báo cáo kinh tế - kỹ thuật phải bắt đầu từ việc nhận diện chính xác loại dự án và điều kiện khu vực xây dựng. Dự án hạ tầng kỹ thuật khung có thể căn cứ vào quy hoạch chung, quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật. Công trình công cộng ngầm, giao thông ngầm và công trình kết nối không gian ngầm thuộc trường hợp tương ứng có thể căn cứ vào quy hoạch không gian ngầm, quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật hoặc quy hoạch chung đô thị. Dự án được xác định tại quy hoạch chi tiết ngành về kết cấu hạ tầng căn cứ vào quy hoạch chi tiết ngành; trường hợp dự án hình thành từ quy hoạch ngành và đáp ứng điều kiện về thẩm quyền thì quy hoạch ngành có thể trở thành căn cứ. Dự án phát triển kết cấu hạ tầng được xác định tại quy hoạch tỉnh sử dụng quy hoạch tỉnh. Dự án trong khu vực bảo vệ di tích, di sản thế giới được hình thành từ quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích sử dụng quy hoạch đó. Dự án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng căn cứ vào quy hoạch hệ thống du lịch hoặc quy hoạch lâm nghiệp. Dự án tại khu vực đã ổn định chức năng sử dụng đất và không phải lập quy hoạch chi tiết có thể căn cứ vào thiết kế đô thị riêng hoặc quy chế quản lý kiến trúc. Dự án tại khu vực không phải lập quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết hoặc quy hoạch chi tiết ngành có thể sử dụng phương án tuyến, vị trí công trình hoặc mặt bằng tổng thể được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận. Các dự án còn lại căn cứ vào quy hoạch chi tiết hoặc quy hoạch tổng mặt bằng. Riêng dự án sửa chữa, tu bổ, hoàn thiện, nâng cấp, cải tạo, mở rộng công trình hiện có hoặc xây dựng mới công trình thay thế công trình hiện có mà vẫn giữ nguyên mục tiêu, địa điểm và quy mô thì không yêu cầu căn cứ vào quy hoạch để lập và thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật. Việc nhận diện đúng trường hợp ngay từ đầu vì vậy là chìa khóa để xác định đúng căn cứ lập dự án, tránh cả tình trạng thiếu cơ sở quy hoạch lẫn việc phát sinh những yêu cầu quy hoạch không cần thiết trong quá trình chuẩn bị đầu tư.

CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ & THIẾT KẾ XÂY DỰNG MINH PHƯƠNG
Địa chỉ: Số 28B Mai Thị Lựu, Phường Đa Kao, Q.1, TPHCM
Hotline: 0903649782 - (028) 3514 6426
Email: nguyenthanhmp156@gmail.com
Xem thêm