THIẾT KẾ XÂY DỰNG
THIẾT KẾ XÂY DỰNG
THIẾT KẾ XÂY DỰNG
Thiết kế xây dựng là quá trình từng bước cụ thể hóa mục tiêu, yêu cầu, quy mô và các giải pháp của dự án đầu tư xây dựng thành hệ thống hồ sơ kỹ thuật có đủ cơ sở để tổ chức triển khai công trình. Tùy thuộc vào đặc điểm của từng dự án, quá trình này có thể được tổ chức theo một bước, hai bước, ba bước hoặc nhiều bước theo thông lệ quốc tế. Việc phân chia thành nhiều bước không đơn thuần là chia nhỏ công việc thiết kế mà nhằm tạo ra một trình tự phát triển có kiểm soát, trong đó mỗi bước có mục đích, nhiệm vụ và mức độ chi tiết riêng, đồng thời thiết kế bước sau phải kế thừa những nội dung và thông số kỹ thuật chủ yếu của thiết kế bước trước. Vì vậy, quy định chung về thiết kế xây dựng cần được hiểu như một hệ thống quản lý xuyên suốt, bắt đầu từ việc xác định số bước thiết kế, tổ chức lập hồ sơ, kiểm soát sự phù hợp giữa các bước cho đến việc xử lý những thay đổi phát sinh trong quá trình triển khai sau khi dự án đã được phê duyệt.
Theo quy định, thiết kế xây dựng bao gồm các loại thiết kế được xác định tại khoản 2 Điều 19 Luật Xây dựng năm 2025. Việc xác định các loại thiết kế là cơ sở để tổ chức các bước thiết kế phù hợp với dự án. Từng loại thiết kế có phạm vi và mức độ thể hiện khác nhau nhưng đều hướng tới mục tiêu chung là từng bước cụ thể hóa giải pháp xây dựng để dự án có thể được triển khai trên thực tế.
Một trong những vấn đề đầu tiên cần giải quyết khi tổ chức thiết kế là xác định dự án sẽ được thực hiện theo bao nhiêu bước. Thẩm quyền quyết định số bước thiết kế trước hết thuộc về người quyết định đầu tư. Người quyết định đầu tư thực hiện việc quyết định số bước thiết kế xây dựng trước hoặc khi phê duyệt dự án.
Như vậy, số bước thiết kế không phải là nội dung được xác định tùy ý trong quá trình triển khai mà về nguyên tắc phải được quyết định từ giai đoạn trước hoặc tại thời điểm dự án được phê duyệt. Việc xác định sớm số bước thiết kế giúp các chủ thể tham gia biết rõ trình tự hồ sơ phải lập, phạm vi của từng bước và mối quan hệ giữa các bước.
Tuy nhiên, quy định cũng tạo ra cơ chế phân quyền. Trường hợp người quyết định đầu tư giao tại quyết định phê duyệt dự án thì chủ đầu tư được quyền quyết định số bước thiết kế xây dựng triển khai sau khi dự án được phê duyệt.
Điểm cần đặc biệt chú ý ở đây là quyền của chủ đầu tư không tự động phát sinh trong mọi dự án. Điều kiện để chủ đầu tư được quyết định số bước thiết kế triển khai sau phê duyệt là phải có nội dung giao tương ứng của người quyết định đầu tư tại quyết định phê duyệt dự án.
Do đó, khi kiểm tra thẩm quyền quyết định số bước thiết kế, trước tiên cần xem người quyết định đầu tư đã trực tiếp xác định số bước hay chưa. Nếu chưa và chủ đầu tư thực hiện việc quyết định thì phải kiểm tra quyết định phê duyệt dự án có giao quyền này cho chủ đầu tư hay không.
Về cách thức tổ chức, thiết kế xây dựng được chia thành thiết kế một bước, hai bước, ba bước và nhiều bước theo thông lệ quốc tế.
Thiết kế một bước là thiết kế bản vẽ thi công. Đây là mô hình đơn giản nhất về số lượng bước thiết kế. Trong trường hợp này, thiết kế bản vẽ thi công là bước thiết kế được xác định để triển khai công trình theo trình tự tương ứng.
Đối với thiết kế hai bước, quy định không chỉ có một tổ hợp duy nhất mà cho phép ba phương án khác nhau. Phương án thứ nhất gồm thiết kế cơ sở và thiết kế bản vẽ thi công. Phương án thứ hai gồm thiết kế FEED và thiết kế bản vẽ thi công. Phương án thứ ba gồm thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công.
Điều này có ý nghĩa rất quan trọng khi áp dụng thực tế. Không nên mặc định rằng cứ thiết kế hai bước thì bước đầu tiên luôn là thiết kế cơ sở. Tùy thuộc phương án được lựa chọn, bước đầu tiên có thể là thiết kế cơ sở, thiết kế FEED hoặc thiết kế kỹ thuật.
Thiết kế cơ sở có vai trò xác lập các giải pháp cơ bản của công trình. Thiết kế FEED được sử dụng trong trường hợp phù hợp với dự án có thiết kế công nghệ để cụ thể hóa những yêu cầu về phương án công nghệ và các giải pháp liên quan. Thiết kế kỹ thuật phát triển các giải pháp với mức độ kỹ thuật tương ứng. Sau các bước này, thiết kế bản vẽ thi công tiếp tục cụ thể hóa hồ sơ để phục vụ việc triển khai xây dựng.
Đối với thiết kế ba bước, quy định tiếp tục cho phép nhiều cách kết hợp. Phương án thứ nhất gồm thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công. Phương án thứ hai gồm thiết kế cơ sở, thiết kế FEED và thiết kế bản vẽ thi công. Phương án thứ ba gồm thiết kế FEED, thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công.
Như vậy, thiết kế ba bước cũng không phải một mô hình duy nhất. Tùy đặc điểm của dự án, ba bước có thể được tổ chức theo những tổ hợp khác nhau nhưng đều hướng tới việc phát triển phương án theo một trình tự có tính kế thừa.
Ngoài ra, dự án còn có thể áp dụng thiết kế nhiều bước theo thông lệ quốc tế. Quy định này tạo không gian để những dự án có đặc điểm phức tạp hoặc áp dụng mô hình quản lý và thiết kế theo thông lệ quốc tế có thể tổ chức nhiều bước hơn các phương án thông thường.
Điều quan trọng không phải chỉ là dự án có bao nhiêu bước mà còn là mỗi bước phải thực hiện đúng chức năng của mình. Nội dung của từng bước thiết kế xây dựng phải đáp ứng các quy định của pháp luật về xây dựng và đồng thời phù hợp với mục đích, nhiệm vụ thiết kế xây dựng được đặt ra cho bước đó.
Có thể xem đây là hai lớp yêu cầu được áp dụng đồng thời. Lớp thứ nhất là yêu cầu pháp lý chung. Lớp thứ hai là yêu cầu cụ thể được xác lập thông qua mục đích và nhiệm vụ thiết kế.
Một hồ sơ dù được trình bày đầy đủ nhưng nếu không đáp ứng nhiệm vụ thiết kế được giao thì vẫn chưa đạt yêu cầu. Ngược lại, nhiệm vụ thiết kế cũng không thể đặt ra những yêu cầu làm cho hồ sơ không phù hợp với quy định pháp luật về xây dựng.
Mối quan hệ giữa nhiệm vụ thiết kế và từng bước thiết kế vì vậy rất chặt chẽ. Nhiệm vụ thiết kế xác định “đầu bài”, còn hồ sơ thiết kế là kết quả cụ thể hóa đầu bài đó thành giải pháp.
Hồ sơ thiết kế xây dựng tương ứng với từng loại thiết kế phải bảo đảm các nội dung được quy định tại Điều 19, Điều 20, Điều 21, Điều 22 và Điều 23 của Nghị định. Đây là cơ sở để xác định thành phần và nội dung của từng loại hồ sơ.
Đối với các thiết kế xây dựng triển khai sau khi dự án được phê duyệt, hồ sơ thiết kế xây dựng còn bao gồm dự toán xây dựng khi có yêu cầu. Điều này cho thấy quá trình triển khai thiết kế sau phê duyệt có thể đồng thời gắn với việc xác định chi phí tương ứng của giải pháp được lựa chọn.
Một nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là nguyên tắc kế thừa giữa các bước thiết kế. Đối với công trình được thiết kế từ hai bước trở lên, thiết kế bước sau phải phù hợp với các nội dung và thông số kỹ thuật chủ yếu của thiết kế ở bước trước.
Nguyên tắc này nhằm bảo đảm dự án được phát triển liên tục. Thiết kế bước trước tạo nền tảng, còn bước sau tiếp tục cụ thể hóa và hoàn thiện nền tảng đó.
Tuy nhiên, “phù hợp” không đồng nghĩa với việc mọi thông số và chi tiết của bước trước phải được giữ nguyên tuyệt đối. Khi chuyển sang bước thiết kế chi tiết hơn, việc chuẩn xác số liệu, tối ưu một số giải pháp hoặc điều chỉnh để đáp ứng tốt hơn yêu cầu sử dụng có thể là cần thiết.
Chính vì vậy, trong quá trình lập thiết kế xây dựng triển khai sau khi dự án được phê duyệt hoặc sau khi dự án được phê duyệt điều chỉnh, chủ đầu tư được quyết định thay đổi một số nội dung so với thiết kế xây dựng bước trước. Những thay đổi này vẫn được xác định là phù hợp với bước trước khi nhằm đáp ứng hiệu quả và yêu cầu sử dụng, với điều kiện không thuộc các trường hợp bị giới hạn tại khoản 6.
Đây là cơ chế tạo sự linh hoạt cho quá trình phát triển thiết kế. Nếu không có cơ chế này thì mọi sự khác biệt giữa hai bước thiết kế đều có nguy cơ bị xem là không phù hợp, trong khi bản chất của bước sau chính là phát triển hồ sơ với dữ liệu và mức độ chi tiết cao hơn.
Tuy nhiên, quyền thay đổi của chủ đầu tư được giới hạn đối với những nội dung có khả năng làm thay đổi bản chất của phương án đã được phê duyệt. Quy định phân chia giới hạn thành hai nhóm: công trình xây dựng theo tuyến và các công trình còn lại.
Đối với công trình xây dựng theo tuyến, trường hợp đầu tiên cần kiểm soát là thay đổi quy mô đầu tư xây dựng đã được xác định tại quyết định phê duyệt dự án.
Nếu thiết kế bước sau làm thay đổi quy mô đầu tư đã được phê duyệt thì không thể đơn thuần coi đây là việc tối ưu thiết kế trong phạm vi quyền quyết định của chủ đầu tư theo cơ chế này.
Tuy nhiên, quy định loại trừ trường hợp chuẩn xác lại số liệu tính toán. Điều này có nghĩa cần phân biệt rõ giữa thay đổi bản chất quy mô đầu tư và việc tính toán lại để xác định chính xác hơn các số liệu đã có.
Sự khác biệt này rất quan trọng trong thực tế. Khi chuyển từ bước thiết kế trước sang bước sau, dữ liệu thường được bổ sung và mức độ chi tiết tăng lên. Vì vậy, một số số liệu có thể thay đổi do được tính toán chính xác hơn nhưng bản chất quy mô đầu tư không thay đổi. Trường hợp này được pháp luật phân biệt với việc thực sự thay đổi quy mô.
Đối với công trình theo tuyến, trường hợp thứ hai là thay đổi giải pháp kết cấu chính của công trình chính thuộc dự án. Đây là thay đổi có khả năng tác động lớn đến phương án kỹ thuật đã được xác lập.
Tuy nhiên, quy định tiếp tục loại trừ trường hợp thay đổi cục bộ. Như vậy, không phải mọi điều chỉnh đối với kết cấu đều được coi là thay đổi giải pháp kết cấu chính theo nghĩa làm vượt khỏi phạm vi phù hợp.
Khi áp dụng cần xem xét bản chất, phạm vi và mức độ của sự thay đổi. Nếu chỉ là điều chỉnh cục bộ phục vụ việc hoàn thiện thiết kế thì được phân biệt với việc thay đổi toàn bộ hoặc thay đổi có tính nguyên tắc đối với giải pháp kết cấu chính.
Đối với các công trình còn lại, nhóm giới hạn đầu tiên cũng là thay đổi quy mô đầu tư xây dựng đã được xác định tại quyết định phê duyệt dự án, đồng thời vẫn loại trừ trường hợp chuẩn xác lại số liệu tính toán.
Như vậy, đối với cả công trình theo tuyến và công trình còn lại, quy mô đầu tư được xác định tại quyết định phê duyệt dự án là một trong những nội dung cốt lõi cần được bảo đảm.
Nhóm giới hạn tiếp theo đối với công trình còn lại là thay đổi giải pháp kiến trúc liên quan đến các phân khu chức năng sử dụng chính bên trong công trình.
Cụm từ “liên quan đến các phân khu chức năng sử dụng chính” có ý nghĩa quan trọng. Quy định không đặt mọi điều chỉnh kiến trúc ở cùng một mức độ kiểm soát mà tập trung vào những thay đổi tác động đến cách tổ chức các chức năng sử dụng chính.
Các phân khu chức năng chính phản ánh cách công trình thực hiện mục tiêu sử dụng. Khi giải pháp kiến trúc thay đổi làm thay đổi các phân khu này thì sự thay đổi đã vượt ra ngoài việc hoàn thiện một chi tiết kiến trúc thông thường.
Một trường hợp khác là thay đổi giải pháp kết cấu chính đối với công trình thuộc đối tượng công trình ảnh hưởng lớn đến an toàn, lợi ích cộng đồng.
Ở đây có hai điều kiện cần được xem xét đồng thời: thứ nhất là thay đổi giải pháp kết cấu chính; thứ hai là công trình thuộc đối tượng ảnh hưởng lớn đến an toàn, lợi ích cộng đồng.
Quy định này phản ánh yêu cầu kiểm soát chặt chẽ hơn đối với những công trình mà sự thay đổi kết cấu chính có thể liên quan trực tiếp đến an toàn và lợi ích cộng đồng.
Đối với dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, thay đổi sơ đồ nguyên lý của hệ thống kỹ thuật cũng thuộc nhóm được kiểm soát.
Sơ đồ nguyên lý phản ánh cách thức tổ chức và hoạt động cơ bản của hệ thống. Vì vậy, việc thay đổi sơ đồ nguyên lý không đơn thuần là điều chỉnh chi tiết mà có thể làm thay đổi cách hệ thống vận hành.
Nhìn tổng thể, khoản 6 tạo ra một ranh giới giữa việc “phát triển và tối ưu thiết kế” với việc “thay đổi những nội dung cốt lõi”. Chủ đầu tư có không gian để hoàn thiện thiết kế nhưng không thể sử dụng quyền này để thay đổi những vấn đề cơ bản đã được xác lập tại bước trước hoặc quyết định phê duyệt dự án.
Bên cạnh giới hạn của khoản 6, khoản 7 thiết lập thêm một cơ chế quản lý đối với một số thay đổi chưa đến mức phải điều chỉnh dự án nhưng vẫn có ý nghĩa đối với người quyết định đầu tư.
Theo đó, trước khi phê duyệt hoặc trước khi thực hiện việc kiểm soát thiết kế xây dựng, chủ đầu tư có trách nhiệm gửi báo cáo bằng văn bản về các nội dung thay đổi thiết kế xây dựng triển khai sau khi dự án được phê duyệt đến người quyết định đầu tư để biết và quản lý trong các trường hợp được xác định.
Trường hợp thứ nhất là thay đổi các thông số hoặc chỉ tiêu đã được người quyết định đầu tư phê duyệt nhưng không thuộc trường hợp điều chỉnh dự án.
Đây là một tình huống cần phân biệt rõ. Không phải mọi thay đổi đối với thông số, chỉ tiêu đã được phê duyệt đều dẫn tới điều chỉnh dự án. Tuy nhiên, nếu chưa đến mức điều chỉnh dự án thì điều đó cũng không có nghĩa chủ đầu tư có thể tự thay đổi mà không thông tin cho người quyết định đầu tư.
Bởi chính người quyết định đầu tư đã phê duyệt các thông số, chỉ tiêu này nên khi có thay đổi, chủ đầu tư phải báo cáo để người quyết định đầu tư biết và quản lý.
Trường hợp thứ hai là thay đổi giải pháp sử dụng vật liệu cho kết cấu chính hoặc thay đổi những yếu tố khác làm ảnh hưởng đến kết quả đánh giá an toàn xây dựng của công trình thuộc đối tượng ảnh hưởng lớn đến an toàn, lợi ích cộng đồng.
Đây là nhóm thay đổi có liên quan trực tiếp đến cơ sở đánh giá an toàn công trình. Vật liệu kết cấu chính có thể tác động đến đặc tính làm việc và khả năng chịu lực của hệ kết cấu. Những yếu tố khác nếu làm thay đổi kết quả đánh giá an toàn cũng có ý nghĩa tương tự.
Do đó, đối với công trình thuộc nhóm ảnh hưởng lớn đến an toàn, lợi ích cộng đồng, các thay đổi này phải được báo cáo trước khi chủ đầu tư thực hiện bước phê duyệt hoặc kiểm soát thiết kế tương ứng.
Cần đặc biệt lưu ý sự khác nhau giữa khoản 6 và khoản 7. Khoản 6 chủ yếu xác định giới hạn của việc thay đổi thiết kế bước sau so với bước trước mà vẫn được coi là phù hợp. Khoản 7 lại xác định những trường hợp chủ đầu tư có nghĩa vụ báo cáo người quyết định đầu tư để biết và quản lý.
Vì vậy, khi phát sinh thay đổi không nên chỉ đặt câu hỏi “có phải điều chỉnh dự án hay không”. Cần tiếp tục xem xét “thay đổi có còn nằm trong phạm vi phù hợp với bước thiết kế trước hay không” và “có thuộc trường hợp phải báo cáo người quyết định đầu tư hay không”.
Đây là ba tầng kiểm soát khác nhau và cần được phân loại chính xác.
Đối với những trường hợp phải báo cáo theo khoản 7, khoản 8 thiết lập một cơ chế xử lý với thời hạn cụ thể.
Nếu người quyết định đầu tư có ý kiến khác với nội dung thay đổi thiết kế mà chủ đầu tư báo cáo thì phải thể hiện ý kiến bằng văn bản trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ.
Có hai yếu tố quan trọng ở đây. Thứ nhất, nếu có ý kiến khác thì phải bằng văn bản. Thứ hai, thời hạn được tính từ ngày nhận đủ hồ sơ chứ không đơn thuần từ ngày chủ đầu tư gửi tài liệu.
Vì vậy, việc xác định thời điểm hồ sơ đã đầy đủ có ý nghĩa trực tiếp đối với việc xác định mốc 05 ngày làm việc.
Nếu sau 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ mà người quyết định đầu tư không có ý kiến thì chủ đầu tư quyết định phê duyệt thiết kế xây dựng.
Cơ chế này tạo ra sự cân bằng giữa hai yêu cầu. Một mặt, người quyết định đầu tư vẫn có quyền kiểm soát những thay đổi liên quan đến các nội dung mình đã phê duyệt hoặc những vấn đề an toàn quan trọng. Mặt khác, thời hạn phản hồi được giới hạn để tránh việc quá trình phê duyệt thiết kế bị kéo dài không xác định.
Có thể hình dung quy trình xử lý khoản 7 và khoản 8 theo một chuỗi rất rõ: phát sinh thay đổi; chủ đầu tư xác định thay đổi thuộc trường hợp phải báo cáo; chủ đầu tư lập và gửi báo cáo bằng văn bản cùng hồ sơ; xác định thời điểm người quyết định đầu tư nhận đủ hồ sơ; tính thời hạn 05 ngày làm việc; nếu có ý kiến khác thì người quyết định đầu tư phải trả lời bằng văn bản; nếu hết thời hạn mà không có ý kiến thì chủ đầu tư quyết định phê duyệt thiết kế.
Đây là trình tự cần được kiểm soát bằng hồ sơ rõ ràng, đặc biệt là tài liệu chứng minh ngày nhận đủ hồ sơ để tránh tranh luận về thời điểm bắt đầu và kết thúc thời hạn.
Bên cạnh các quy định chung, căn cứ yêu cầu quản lý, bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành có trách nhiệm hướng dẫn chi tiết các nội dung tại khoản 6 và khoản 7 theo lĩnh vực được giao quản lý.
Quy định này có ý nghĩa bởi mỗi lĩnh vực công trình có những đặc điểm kỹ thuật khác nhau. Việc xác định thế nào là thay đổi cục bộ, thay đổi giải pháp kết cấu chính hoặc các yếu tố ảnh hưởng đến an toàn trong từng lĩnh vực có thể cần hướng dẫn chi tiết để bảo đảm áp dụng thống nhất.
Về trách nhiệm tổ chức lập thiết kế, nguyên tắc chung là chủ đầu tư hoặc cơ quan chuẩn bị dự án chịu trách nhiệm tổ chức lập thiết kế xây dựng.
Trách nhiệm này gắn với vai trò của chủ đầu tư và cơ quan chuẩn bị dự án trong việc tổ chức quá trình chuẩn bị, phát triển hồ sơ kỹ thuật của dự án.
Tuy nhiên, quy định có ngoại lệ đối với những bước thiết kế xây dựng được giao cho nhà thầu thi công xây dựng lập theo quy định của hợp đồng xây dựng. Trong trường hợp đó, việc lập bước thiết kế tương ứng được thực hiện theo phạm vi trách nhiệm của nhà thầu đã được xác định trong hợp đồng.
Điều này cho thấy khi xác định trách nhiệm lập thiết kế không thể chỉ căn cứ vào quy định chung mà còn phải kiểm tra cấu trúc hợp đồng của dự án. Nếu hợp đồng đã giao một bước thiết kế cho nhà thầu thi công thì trách nhiệm thực hiện bước đó được xác định theo cơ chế tương ứng.
Từ toàn bộ quy định có thể xây dựng một trình tự kiểm soát thiết kế tương đối rõ ràng. Trước hết xác định loại và số bước thiết kế. Sau đó xác định ai là chủ thể có thẩm quyền quyết định số bước. Tiếp theo kiểm tra nhiệm vụ và nội dung hồ sơ của từng bước.
Nếu dự án có từ hai bước trở lên thì phải kiểm tra tính phù hợp của bước sau với nội dung và thông số kỹ thuật chủ yếu của bước trước. Nếu không có thay đổi thì tiếp tục triển khai theo trình tự bình thường. Nếu có thay đổi thì phải phân loại thay đổi.
Bước phân loại này đặc biệt quan trọng. Đầu tiên cần xác định công trình là công trình theo tuyến hay công trình còn lại. Nếu là công trình theo tuyến thì kiểm tra quy mô đầu tư và giải pháp kết cấu chính của công trình chính, đồng thời xem xét ngoại lệ về chuẩn xác số liệu và thay đổi cục bộ.
Nếu là công trình còn lại thì kiểm tra quy mô đầu tư, giải pháp kiến trúc liên quan đến các phân khu chức năng chính, giải pháp kết cấu chính đối với công trình ảnh hưởng lớn đến an toàn, lợi ích cộng đồng và sơ đồ nguyên lý hệ thống kỹ thuật đối với dự án hạ tầng kỹ thuật.
Sau khi xử lý theo khoản 6, cần tiếp tục kiểm tra khoản 7. Nếu thay đổi thông số hoặc chỉ tiêu đã được người quyết định đầu tư phê duyệt nhưng chưa thuộc trường hợp điều chỉnh dự án thì phải báo cáo. Nếu thay đổi vật liệu kết cấu chính hoặc yếu tố khác ảnh hưởng đến kết quả đánh giá an toàn của công trình thuộc đối tượng tương ứng thì cũng phải báo cáo.
Sau khi báo cáo, cần theo dõi cơ chế 05 ngày làm việc. Nếu người quyết định đầu tư có ý kiến khác thì xử lý theo ý kiến được thể hiện bằng văn bản. Nếu không có ý kiến trong thời hạn kể từ khi nhận đủ hồ sơ thì chủ đầu tư quyết định phê duyệt thiết kế xây dựng.
Cách tiếp cận này giúp tránh hai thái cực trong quản lý thiết kế. Thái cực thứ nhất là coi mọi thay đổi đều phải xử lý như một thay đổi lớn, dẫn đến thủ tục không cần thiết. Thái cực thứ hai là coi mọi thay đổi trong bước thiết kế sau chỉ là hoạt động hoàn thiện kỹ thuật và để chủ đầu tư tự quyết định mà không đánh giá bản chất.
Quy định tại Điều 16 cho phép phân loại thay đổi theo mức độ và đối tượng chịu ảnh hưởng. Những thay đổi mang tính chuẩn xác, cụ thể hóa hoặc tối ưu trong phạm vi cho phép có thể được xử lý linh hoạt. Những thay đổi tác động đến nội dung cốt lõi của phương án phải được kiểm soát ở mức cao hơn. Những thay đổi liên quan đến nội dung đã được người quyết định đầu tư phê duyệt hoặc có khả năng ảnh hưởng đến kết quả đánh giá an toàn trong trường hợp tương ứng phải được báo cáo.
Như vậy, điểm cốt lõi của quản lý thiết kế nhiều bước chính là bảo đảm “kế thừa nhưng không cứng nhắc”. Bước sau phải phát triển từ bước trước nhưng vẫn có không gian để chuẩn xác và tối ưu. Quyền tối ưu này phải dừng lại khi sự thay đổi làm ảnh hưởng đến những nội dung cốt lõi được pháp luật xác định.
Tóm lại, Điều 16 hình thành một khung quản lý tương đối toàn diện đối với thiết kế xây dựng. Thiết kế xây dựng gồm các loại thiết kế theo Luật Xây dựng năm 2025 và có thể được tổ chức theo một bước, hai bước, ba bước hoặc nhiều bước theo thông lệ quốc tế. Người quyết định đầu tư là chủ thể quyết định số bước trước hoặc khi phê duyệt dự án; trường hợp được giao tại quyết định phê duyệt dự án thì chủ đầu tư được quyết định số bước thiết kế triển khai sau khi dự án được phê duyệt. Nội dung của từng bước phải đáp ứng pháp luật và phù hợp với mục đích, nhiệm vụ thiết kế. Hồ sơ của từng loại thiết kế phải đáp ứng nội dung tương ứng và đối với thiết kế triển khai sau phê duyệt dự án còn bao gồm dự toán xây dựng khi có yêu cầu. Công trình được thiết kế từ hai bước trở lên phải bảo đảm thiết kế bước sau phù hợp với nội dung và thông số kỹ thuật chủ yếu của bước trước. Chủ đầu tư được quyền thay đổi một số nội dung để đáp ứng hiệu quả và yêu cầu sử dụng nhưng quyền này bị giới hạn đối với các thay đổi quan trọng về quy mô, kiến trúc, kết cấu và hệ thống kỹ thuật theo từng loại công trình. Một số thay đổi dù chưa làm phát sinh điều chỉnh dự án vẫn phải báo cáo người quyết định đầu tư để biết và quản lý. Nếu người quyết định đầu tư có ý kiến khác thì phải thể hiện bằng văn bản trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ; nếu hết thời hạn mà không có ý kiến thì chủ đầu tư quyết định phê duyệt thiết kế xây dựng. Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành hướng dẫn chi tiết những nội dung cần thiết theo lĩnh vực quản lý. Chủ đầu tư hoặc cơ quan chuẩn bị dự án chịu trách nhiệm tổ chức lập thiết kế, trừ những bước được giao cho nhà thầu thi công xây dựng lập theo hợp đồng. Khi hiểu và áp dụng đúng chuỗi quy định này, việc quản lý thiết kế sẽ không chỉ dừng ở kiểm tra thành phần hồ sơ mà còn kiểm soát được sự kế thừa giữa các bước, nhận diện đúng giới hạn được phép thay đổi và xác định đúng thẩm quyền xử lý khi phương án thiết kế được điều chỉnh trong quá trình triển khai dự án.

CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ & THIẾT KẾ XÂY DỰNG MINH PHƯƠNG
Địa chỉ: Số 28B Mai Thị Lựu, Phường Đa Kao, Q.1, TPHCM
Hotline: 0903649782 - (028) 3514 6426
Email: nguyenthanhmp156@gmail.com
Xem thêm