Tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng

Tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng là một trong những nội dung có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả triển khai dự án

Tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng là một trong những nội dung có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả triển khai dự án, bởi sau khi xác định mục tiêu, quy mô, nguồn vốn, tiến độ và các giải pháp đầu tư, dự án cần có một mô hình tổ chức đủ khả năng chuyển những nội dung đã được quyết định thành các công việc cụ thể trong thực tế. Việc quản lý dự án không chỉ là theo dõi tiến độ hay điều phối nhà thầu mà còn liên quan đến phạm vi công việc, khối lượng, chất lượng xây dựng, chi phí đầu tư, an toàn thi công, bảo vệ môi trường, quản lý rủi ro và sự phối hợp giữa nhiều chủ thể trong suốt quá trình thực hiện. Chính vì vậy, lựa chọn đúng hình thức quản lý và xây dựng bộ máy quản lý phù hợp là điều kiện quan trọng để dự án được tổ chức thực hiện thống nhất, rõ trách nhiệm và phù hợp với đặc điểm thực tế.

Theo nguyên tắc chung, hình thức quản lý dự án đầu tư xây dựng được lựa chọn trên cơ sở quy mô, tính chất, hình thức đầu tư và điều kiện thực hiện dự án. Người quyết định đầu tư là chủ thể quyết định hình thức quản lý dự án thuộc các hình thức được quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Xây dựng năm 2025. Quyết định này có thể được thực hiện khi phê duyệt dự án hoặc ngay trong giai đoạn chuẩn bị dự án.

Việc cho phép xác định hình thức quản lý ngay trong giai đoạn chuẩn bị dự án có ý nghĩa thực tiễn, bởi bộ máy quản lý trong nhiều trường hợp cần được hình thành sớm để tổ chức các công việc chuẩn bị. Tuy nhiên, dù lựa chọn ở giai đoạn nào thì người quyết định đầu tư vẫn phải dựa trên những căn cứ thực tế thay vì lựa chọn một mô hình quản lý theo cách máy móc.

Trong bốn căn cứ nêu trên, quy mô dự án phản ánh khối lượng công việc và phạm vi cần quản lý; tính chất dự án phản ánh mức độ phức tạp và yêu cầu chuyên môn; hình thức đầu tư liên quan đến cơ chế tổ chức, nguồn vốn và quan hệ giữa các chủ thể; còn điều kiện thực hiện thể hiện khả năng bố trí nhân lực, tổ chức bộ máy và các nguồn lực cần thiết. Các yếu tố này cần được xem xét tổng thể trước khi quyết định mô hình quản lý.

Do đó, không thể mặc nhiên cho rằng một hình thức quản lý phù hợp với mọi dự án. Một dự án có quy mô lớn, nhiều công trình, nhiều gói thầu và yêu cầu kỹ thuật phức tạp sẽ đặt ra yêu cầu quản lý khác với một dự án có phạm vi đơn giản hơn. Tương tự, dự án đầu tư công, dự án đầu tư kinh doanh, dự án PPP và dự án sử dụng vốn ODA có những cơ chế riêng cần được xem xét khi lựa chọn hình thức tổ chức quản lý.

Đối với dự án đầu tư công, nguyên tắc được xác định tương đối rõ: hình thức quản lý dự án là Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng. Điều này cho thấy Ban quản lý dự án giữ vị trí chủ đạo trong mô hình quản lý dự án sử dụng vốn đầu tư công.

Tuy nhiên, quy định cũng dự liệu những trường hợp thực tế mà người quyết định đầu tư không có Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng trực thuộc. Ngoài ra, có thể xảy ra trường hợp đã có Ban quản lý dự án trực thuộc nhưng tại thời điểm xem xét giao nhiệm vụ, Ban đó không đủ điều kiện để thực hiện dự án.

Trong hai trường hợp này, người quyết định đầu tư được quyết định áp dụng hình thức chủ đầu tư tổ chức quản lý dự án. Đây là cơ chế thay thế nhằm bảo đảm dự án vẫn có mô hình quản lý phù hợp khi Ban quản lý dự án không tồn tại hoặc chưa đủ điều kiện thực hiện nhiệm vụ.

Điểm cần chú ý là việc có Ban quản lý dự án trực thuộc chưa đồng nghĩa với việc bắt buộc phải giao dự án cho Ban đó trong mọi trường hợp. Quy định yêu cầu xem xét điều kiện thực hiện của Ban tại thời điểm quyết định giao nhiệm vụ. Nếu Ban không đủ điều kiện thì người quyết định đầu tư có thể lựa chọn hình thức chủ đầu tư tổ chức quản lý.

Như vậy, đối với dự án đầu tư công có thể hình dung một trình tự xem xét khá rõ. Trước hết xác định có Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng trực thuộc hay không. Nếu có, tiếp tục đánh giá Ban có đủ điều kiện để thực hiện nhiệm vụ tại thời điểm giao dự án hay không. Nếu Ban đủ điều kiện thì áp dụng hình thức Ban quản lý dự án; nếu không có Ban hoặc Ban không đủ điều kiện thì có thể chuyển sang hình thức chủ đầu tư tổ chức quản lý dự án.

Trường hợp Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng đồng thời được giao làm chủ đầu tư thì hình thức quản lý dự án vẫn được xác định là Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng. Quy định này rất quan trọng trong việc phân biệt giữa tư cách chủ đầu tư và hình thức tổ chức quản lý. Một Ban quản lý dự án có thể vừa thực hiện chức năng chủ đầu tư vừa thực hiện chức năng quản lý dự án, nhưng hình thức quản lý trong trường hợp đó vẫn là Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng.

Đối với dự án đầu tư kinh doanh và dự án thuộc điểm c khoản 1 Điều 17 Luật Xây dựng năm 2025, người quyết định đầu tư có phạm vi lựa chọn linh hoạt hơn. Người quyết định đầu tư được quyết định một trong các hình thức quản lý dự án quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Xây dựng năm 2025, trên cơ sở bảo đảm phù hợp với yêu cầu quản lý và điều kiện cụ thể của dự án.

Điều này cho phép mô hình quản lý của dự án đầu tư kinh doanh được tổ chức tương thích với cơ cấu của nhà đầu tư và đặc điểm của dự án. Tuy nhiên, sự linh hoạt vẫn phải gắn với yêu cầu thực tế. Hình thức được lựa chọn cần có khả năng kiểm soát công việc, đáp ứng yêu cầu chuyên môn và bảo đảm dự án được tổ chức thực hiện theo đúng phạm vi đã được quyết định.

Đối với dự án sử dụng vốn ODA hoặc vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài, việc xác định hình thức tổ chức quản lý có thứ tự áp dụng riêng. Trước hết phải xem xét điều ước quốc tế hoặc văn bản thỏa thuận về vốn ODA, vốn vay ưu đãi có quy định về hình thức tổ chức quản lý dự án hay không.

Nếu điều ước quốc tế hoặc văn bản thỏa thuận đã có quy định thì hình thức quản lý dự án được áp dụng theo các nội dung đó. Chỉ khi không có quy định cụ thể mới thực hiện theo Nghị định.

Như vậy, đối với dự án ODA hoặc vốn vay ưu đãi, không nên bắt đầu bằng việc lựa chọn ngay một mô hình theo cơ chế chung của Nghị định. Bước đầu tiên cần thực hiện là kiểm tra các điều ước quốc tế và văn bản thỏa thuận liên quan đến nguồn vốn. Cách tiếp cận này bảo đảm mô hình tổ chức quản lý phù hợp với những cam kết đã được xác lập đối với nhà tài trợ.

Đối với dự án PPP, hình thức quản lý dự án được xác định trên cơ sở thỏa thuận giữa cơ quan có thẩm quyền và nhà đầu tư trong hợp đồng PPP. Tuy nhiên, các bên không thể thỏa thuận một hình thức hoàn toàn nằm ngoài hệ thống pháp luật xây dựng mà phải lựa chọn trong các hình thức quản lý dự án quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Xây dựng năm 2025.

Quy định này tạo ra sự kết hợp giữa tính linh hoạt của hợp đồng PPP và khuôn khổ quản lý xây dựng. Cơ quan có thẩm quyền và nhà đầu tư có thể căn cứ vào đặc điểm dự án để lựa chọn mô hình thích hợp, nhưng hình thức cuối cùng phải được thể hiện trong hợp đồng PPP và nằm trong phạm vi pháp luật cho phép.

Một trường hợp cần tiếp tục phân tích là khi người quyết định đầu tư lựa chọn hình thức chủ đầu tư tổ chức quản lý dự án. Đây chưa phải là điểm kết thúc của quá trình xác định mô hình quản lý.

Khi áp dụng hình thức này, chủ đầu tư phải căn cứ vào điều kiện triển khai dự án để tiếp tục lựa chọn hình thức quản lý cụ thể được quy định tại Điều 46, Điều 47 hoặc Điều 48 của Nghị định. Như vậy, quyết định “chủ đầu tư tổ chức quản lý” mới xác định cấp độ chung; sau đó chủ đầu tư còn phải lựa chọn cách thức tổ chức cụ thể phù hợp.

Cơ chế này cho thấy quá trình lựa chọn hình thức quản lý có thể diễn ra theo hai tầng. Tầng thứ nhất do người quyết định đầu tư xác định hình thức quản lý tổng thể. Tầng thứ hai, nếu lựa chọn chủ đầu tư tổ chức quản lý, chủ đầu tư tiếp tục lựa chọn mô hình cụ thể dựa trên điều kiện thực tế.

Bên cạnh quy định về lựa chọn hình thức, Điều 45 tập trung xác lập cơ chế tổ chức và hoạt động của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng. Đây là nội dung quan trọng bởi Ban quản lý dự án không chỉ cần được thành lập đúng thẩm quyền mà còn phải có chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu và nguồn nhân lực phù hợp với những dự án được giao.

Việc thành lập Ban quản lý dự án phải căn cứ vào điều kiện triển khai dự án. Cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền quyết định thành lập Ban để quản lý những dự án thuộc cấp quyết định đầu tư của mình, đồng thời quyết định số lượng, chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Ban.

Như vậy, pháp luật không áp đặt một cơ cấu duy nhất cho tất cả Ban quản lý dự án. Số lượng Ban, quy mô tổ chức và các bộ phận bên trong phải được xác định dựa trên yêu cầu quản lý và điều kiện cụ thể.

Đối với cơ quan trung ương, người đứng đầu cơ quan trung ương có thẩm quyền thành lập Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng. Ban có thể được tổ chức phù hợp với các chuyên ngành thuộc lĩnh vực quản lý hoặc theo yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng tại những vùng, khu vực nhất định.

Phạm vi dự án mà Ban này quản lý gồm các dự án đầu tư xây dựng thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan trung ương hoặc những dự án được cơ quan trung ương phân cấp, ủy quyền thực hiện.

Quy định cho phép tổ chức Ban theo chuyên ngành hoặc theo vùng, khu vực giúp cơ quan trung ương có thể lựa chọn mô hình phù hợp với đặc điểm quản lý. Một cơ quan có nhiều dự án cùng chuyên ngành có thể tổ chức Ban theo chuyên môn, trong khi trường hợp cần quản lý tập trung các dự án cơ sở vật chất, hạ tầng tại một khu vực có thể lựa chọn cách tổ chức tương ứng.

Đối với cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền thành lập Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng để quản lý các dự án thuộc thẩm quyền quản lý của mình.

Đáng chú ý, Ban do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập còn có thể quản lý những dự án thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân dân cấp xã theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Quy định này cho phép huy động năng lực quản lý ở cấp tỉnh để hỗ trợ quản lý các dự án cấp xã trong những trường hợp cần thiết.

Đối với cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp xã được thành lập Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng để quản lý các dự án thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân dân cấp xã.

Như vậy, cơ chế thành lập Ban được phân định tương ứng từ cơ quan trung ương đến chính quyền địa phương, bảo đảm chủ thể thành lập gắn với phạm vi dự án thuộc thẩm quyền quản lý.

Ngoài các chủ thể nhà nước, đối với cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp, người đại diện có thẩm quyền được quyết định thành lập Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng là tổ chức hoặc đơn vị trực thuộc. Việc thành lập và tổ chức Ban trong trường hợp này phụ thuộc vào yêu cầu quản lý và điều kiện cụ thể của dự án.

Một vấn đề quan trọng là địa vị pháp lý của Ban quản lý dự án được thành lập bởi cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã theo các trường hợp được quy định.

Các Ban này là đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên hoặc đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư. Việc xác định địa vị này kéo theo những yêu cầu về cơ chế tổ chức và hoạt động tương ứng.

Ban được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước hoặc ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật để thực hiện các nhiệm vụ quản lý dự án. Khả năng mở tài khoản tạo cơ sở cho Ban tổ chức các hoạt động tài chính cần thiết trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao.

Do các Ban này là đơn vị sự nghiệp công lập nên việc thành lập, tổ chức lại hoặc giải thể phải tuân thủ pháp luật về đơn vị sự nghiệp công lập. Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý, bởi việc tổ chức Ban không chỉ chịu sự điều chỉnh của Nghị định về quản lý hoạt động xây dựng mà còn liên quan đến pháp luật điều chỉnh đơn vị sự nghiệp công lập.

Người quyết định thành lập Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng là đơn vị sự nghiệp công lập quyết định trực tiếp hoặc giao cơ quan, tổ chức thực hiện việc tổ chức lại, giải thể Ban.

Quy định này tạo ra một chu trình tổ chức đầy đủ từ thành lập, vận hành đến tổ chức lại hoặc giải thể, thay vì chỉ quy định về việc hình thành Ban ở thời điểm ban đầu.

Số lượng Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng là đơn vị sự nghiệp công lập cũng phải được kiểm soát. Việc xác định số lượng Ban phải căn cứ vào pháp luật về đơn vị sự nghiệp công lập và yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền về tinh gọn tổ chức bộ máy, biên chế trong các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập.

Đồng thời, số lượng Ban phải phù hợp với số lượng công trình và dự án được giao quản lý. Đây là yêu cầu nhằm tạo sự cân bằng giữa tinh gọn tổ chức và năng lực thực hiện nhiệm vụ.

Nếu thành lập quá nhiều Ban trong khi số lượng dự án không tương xứng, bộ máy có thể trở nên phân tán. Ngược lại, nếu số lượng Ban quá ít trong khi khối lượng dự án rất lớn thì nguồn lực quản lý có thể không đáp ứng yêu cầu. Vì vậy, việc xác định số lượng phải gắn với khối lượng công việc thực tế và yêu cầu tổ chức bộ máy.

Trong quá trình hoạt động, Ban quản lý dự án được phép thuê cá nhân hoặc tổ chức tư vấn để thực hiện một số công việc khi cần thiết. Đây là cơ chế giúp Ban bổ sung nguồn lực chuyên môn đối với những nhiệm vụ mà bộ máy hiện tại chưa đáp ứng đầy đủ hoặc cần sự hỗ trợ của chuyên gia.

Tuy nhiên, thuê tư vấn không đồng nghĩa với chuyển toàn bộ trách nhiệm quản lý dự án cho bên ngoài. Ban vẫn là chủ thể thực hiện nhiệm vụ được giao và phải tổ chức kiểm soát những công việc do tư vấn thực hiện trong phạm vi trách nhiệm của mình.

Bên cạnh việc thuê tư vấn phục vụ các dự án đang quản lý, Ban quản lý dự án còn được thực hiện tư vấn quản lý dự án cho những dự án khác hoặc thực hiện một số công việc tư vấn.

Quyền này được đặt dưới một điều kiện quan trọng: Ban phải bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ quản lý dự án đã được giao. Điều đó có nghĩa hoạt động tư vấn cho dự án khác chỉ là hoạt động được phép thực hiện khi không làm ảnh hưởng đến trách nhiệm chính của Ban.

Về cơ cấu tổ chức, Ban quản lý dự án phải được tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, số lượng và quy mô dự án cần quản lý. Bộ máy không chỉ cần đủ về số lượng mà còn phải được phân chia thành những bộ phận có chuyên môn tương ứng.

Các bộ phận chủ yếu bao gồm Ban giám đốc, các giám đốc quản lý dự án và những bộ phận chuyên môn nghiệp vụ trực thuộc. Các bộ phận này hỗ trợ Ban thực hiện chức năng làm chủ đầu tư trong trường hợp được giao và chức năng quản lý dự án.

Giám đốc quản lý dự án phải đáp ứng điều kiện về năng lực và kinh nghiệm nghề nghiệp tương ứng với quy mô dự án được giao. Đây là yêu cầu trực tiếp gắn năng lực cá nhân với mức độ phức tạp và quy mô của nhiệm vụ quản lý.

Không thể chỉ căn cứ vào chức danh để giao một dự án mà không xem xét năng lực và kinh nghiệm của người đảm nhiệm. Dự án có quy mô tương ứng phải được giao cho giám đốc quản lý dự án đáp ứng điều kiện phù hợp theo quy định.

Đối với các bộ phận chuyên môn, yêu cầu về nhân sự được quy định cụ thể hơn. Cá nhân được giao phụ trách một bộ phận chuyên môn phải có chuyên môn đào tạo và kinh nghiệm phù hợp với dự án và công việc được giao.

Đối với bộ phận quản lý phạm vi và kế hoạch công việc, khối lượng công việc, chất lượng xây dựng, tiến độ thực hiện, an toàn trong thi công xây dựng và bảo vệ môi trường trong xây dựng, người phụ trách phải có chuyên môn và kinh nghiệm về thiết kế xây dựng hoặc giám sát thi công xây dựng.

Nhóm nhiệm vụ này liên quan trực tiếp đến việc chuyển thiết kế thành công trình thực tế, kiểm soát khối lượng, chất lượng, tiến độ và các điều kiện thi công. Do đó, yêu cầu về chuyên môn thiết kế hoặc giám sát thi công giúp bảo đảm người phụ trách có nền tảng kỹ thuật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ.

Đối với bộ phận được giao quản lý chi phí đầu tư xây dựng và quản lý rủi ro, cá nhân phụ trách phải có chuyên môn và kinh nghiệm về quản lý chi phí đầu tư xây dựng.

Quy định này cho thấy quản lý chi phí và rủi ro được đặt trong một nhóm nhiệm vụ cần nguồn nhân lực có kiến thức chuyên môn phù hợp. Việc kiểm soát nguồn vốn, các khoản chi phí và những biến động có thể ảnh hưởng đến dự án cần được thực hiện bởi người có kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý chi phí đầu tư xây dựng.

Từ những yêu cầu trên có thể thấy cơ cấu của Ban quản lý dự án phải được thiết kế dựa trên công việc thực tế. Không nên hình thành các bộ phận chỉ về mặt danh nghĩa mà phải bảo đảm người phụ trách có chuyên môn tương ứng với phạm vi trách nhiệm.

Một Ban quản lý dự án có cơ cấu đầy đủ nhưng nhân sự không đáp ứng năng lực vẫn khó bảo đảm chất lượng quản lý. Ngược lại, có đội ngũ chuyên môn tốt nhưng không phân định rõ nhiệm vụ cũng dễ dẫn đến chồng chéo hoặc bỏ sót trách nhiệm.

Chính vì vậy, bên cạnh tổ chức bộ máy và nhân sự, Điều 45 còn đặt ra yêu cầu về quy chế hoạt động. Giám đốc Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng có trách nhiệm quy định quy chế hoạt động của Ban.

Quy chế phải xác định vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ công tác của Ban. Đây là nền tảng để xác định Ban thực hiện những công việc nào, có quyền hạn đến đâu và phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan như thế nào.

Đặc biệt, quy chế phải làm rõ trách nhiệm giữa bộ phận thực hiện chức năng chủ đầu tư và bộ phận thực hiện nghiệp vụ quản lý dự án. Yêu cầu này có ý nghĩa lớn đối với trường hợp Ban quản lý dự án đồng thời được giao làm chủ đầu tư.

Chức năng chủ đầu tư và chức năng quản lý dự án có mối liên hệ mật thiết nhưng không nên bị hòa lẫn đến mức không xác định được trách nhiệm. Quy chế nội bộ phải chỉ rõ bộ phận nào thực hiện quyền, nghĩa vụ thuộc chức năng chủ đầu tư và bộ phận nào thực hiện các nghiệp vụ quản lý dự án.

Việc phân định rõ trách nhiệm giúp hạn chế tình trạng một công việc có nhiều bộ phận cùng tham gia nhưng không có đầu mối chịu trách nhiệm chính, hoặc ngược lại một nhiệm vụ bị bỏ sót do các bộ phận cho rằng thuộc trách nhiệm của nhau.

Toàn bộ nội dung quy chế phải phù hợp với pháp luật về xây dựng và các quy định pháp luật khác có liên quan. Do đó, quy chế hoạt động là công cụ tổ chức nội bộ nhưng không được đặt ra cơ chế trái với phạm vi quyền hạn và trách nhiệm mà pháp luật đã xác định.

Nếu hệ thống hóa toàn bộ quy định của Điều 44 và Điều 45 thành một chuỗi quản lý, trước hết phải xác định loại dự án và đặc điểm thực hiện. Trên cơ sở quy mô, tính chất, hình thức đầu tư và điều kiện thực tế, người quyết định đầu tư lựa chọn hình thức quản lý.

Nếu là dự án đầu tư công thì ưu tiên xác định khả năng giao Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng. Nếu không có Ban trực thuộc hoặc Ban không đủ điều kiện tại thời điểm giao nhiệm vụ thì có thể áp dụng hình thức chủ đầu tư tổ chức quản lý dự án. Nếu Ban quản lý dự án đồng thời là chủ đầu tư thì hình thức quản lý vẫn là Ban quản lý dự án.

Nếu là dự án đầu tư kinh doanh hoặc dự án thuộc trường hợp được dẫn chiếu tại Điều 17 Luật Xây dựng năm 2025 thì người quyết định đầu tư lựa chọn hình thức phù hợp với yêu cầu và điều kiện cụ thể. Nếu sử dụng vốn ODA hoặc vốn vay ưu đãi thì trước hết kiểm tra điều ước quốc tế và văn bản thỏa thuận về nguồn vốn. Nếu là dự án PPP thì hình thức được cơ quan có thẩm quyền và nhà đầu tư thỏa thuận trong hợp đồng PPP.

Khi áp dụng hình thức chủ đầu tư tổ chức quản lý, chủ đầu tư tiếp tục lựa chọn mô hình cụ thể theo Điều 46, Điều 47 hoặc Điều 48. Khi áp dụng Ban quản lý dự án, cần xác định đúng chủ thể có thẩm quyền thành lập, địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu của Ban.

Tiếp theo là bố trí nhân sự tương ứng với công việc. Giám đốc quản lý dự án phải đáp ứng điều kiện năng lực và kinh nghiệm theo quy mô dự án; người phụ trách các bộ phận chuyên môn phải có chuyên môn, kinh nghiệm phù hợp. Khi nguồn lực nội bộ chưa đáp ứng một số công việc, Ban được thuê tổ chức, cá nhân tư vấn nhưng vẫn phải bảo đảm trách nhiệm quản lý của mình.

Cuối cùng, toàn bộ bộ máy được vận hành thông qua quy chế hoạt động do Giám đốc Ban quy định, trong đó đặc biệt phải phân định rõ chức năng chủ đầu tư và nghiệp vụ quản lý dự án.

Nhìn tổng thể, Điều 44 và Điều 45 hình thành một hệ thống quản lý theo logic từ lựa chọn mô hình đến tổ chức thực hiện. Hình thức quản lý phải phù hợp với dự án; Ban quản lý phải được thành lập đúng thẩm quyền; số lượng Ban phải phù hợp với yêu cầu tinh gọn và khối lượng dự án; cơ cấu phải tương thích với nhiệm vụ; nhân sự phải đáp ứng chuyên môn; hoạt động tư vấn không được ảnh hưởng đến nhiệm vụ chính; và trách nhiệm nội bộ phải được phân định bằng quy chế rõ ràng.

Tóm lại, tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng không chỉ là lựa chọn giữa Ban quản lý dự án và chủ đầu tư tự tổ chức quản lý mà là một quá trình xác lập toàn bộ cơ chế quản trị dự án. Người quyết định đầu tư phải căn cứ vào quy mô, tính chất, hình thức đầu tư và điều kiện thực hiện để lựa chọn mô hình phù hợp. Dự án đầu tư công về nguyên tắc áp dụng Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng, nhưng có thể chuyển sang chủ đầu tư tổ chức quản lý khi không có Ban trực thuộc hoặc Ban hiện có không đủ điều kiện. Dự án đầu tư kinh doanh được lựa chọn hình thức phù hợp; dự án ODA và vốn vay ưu đãi trước hết tuân theo điều ước quốc tế, thỏa thuận về nguồn vốn; dự án PPP xác định mô hình quản lý trong hợp đồng PPP. Ban quản lý dự án phải được thành lập đúng thẩm quyền, tổ chức phù hợp với số lượng và quy mô dự án, có đội ngũ đáp ứng điều kiện năng lực, được thuê tư vấn khi cần thiết và có thể thực hiện tư vấn cho dự án khác trên cơ sở không ảnh hưởng đến nhiệm vụ được giao. Đối với Ban là đơn vị sự nghiệp công lập, việc thành lập, tổ chức lại và giải thể còn phải tuân thủ pháp luật về đơn vị sự nghiệp công lập và yêu cầu tinh gọn bộ máy. Giám đốc Ban có trách nhiệm ban hành quy chế hoạt động, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, quan hệ công tác và đặc biệt là trách nhiệm giữa bộ phận thực hiện chức năng chủ đầu tư với bộ phận thực hiện nghiệp vụ quản lý dự án. Khi các yếu tố về mô hình, bộ máy, nhân sự và trách nhiệm được tổ chức đồng bộ, Ban quản lý dự án mới có cơ sở thực hiện hiệu quả nhiệm vụ được giao trong suốt quá trình đầu tư xây dựng.

 

CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ & THIẾT KẾ XÂY DỰNG MINH PHƯƠNG

Địa chỉ: Số 28B Mai Thị Lựu, Phường Đa Kao, Q.1, TPHCM

Hotline:  0903649782 - (028) 3514 6426

Email: nguyenthanhmp156@gmail.com

 


Tin tức liên quan

Quy trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng
Quy trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng

78 Lượt xem

Quy trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng

Hướng dẫn lập dự án đầu tư xây dựng theo quy định mới
Hướng dẫn lập dự án đầu tư xây dựng theo quy định mới

70 Lượt xem

Hướng dẫn lập dự án đầu tư xây dựng theo quy định mới

Giấy phép xây dựng cho toàn bộ công trình thuộc dự án
Giấy phép xây dựng cho toàn bộ công trình thuộc dự án

129 Lượt xem

Xin giấy phép cho toàn bộ công trình thuộc dự án

Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới
Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới

116 Lượt xem

Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới

Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng
Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng

108 Lượt xem

Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng

Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng
Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng

97 Lượt xem

Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng


Bình luận
  • Đánh giá của bạn
Đã thêm vào giỏ hàng