Trình tự đầu tư xây dựng dự án

Trình tự đầu tư xây dựng dự án

Trình tự đầu tư xây dựng dự án

Trình tự đầu tư xây dựng là toàn bộ chuỗi công việc được tổ chức từ khi dự án bắt đầu hình thành, được nghiên cứu và chuẩn bị, chuyển sang giai đoạn triển khai thực tế, hoàn thành công trình và kết thúc các nghĩa vụ về hợp đồng, vốn đầu tư, bảo hành cũng như hồ sơ có liên quan. Việc quy định trình tự đầu tư xây dựng không chỉ nhằm phân chia các thủ tục thành từng giai đoạn mà quan trọng hơn là xác lập mối quan hệ giữa các công việc trong toàn bộ vòng đời thực hiện dự án. Mỗi công việc có mục tiêu riêng, nhưng kết quả của công việc trước thường tạo thành cơ sở để triển khai công việc tiếp theo. Chính vì vậy, khi nghiên cứu trình tự đầu tư xây dựng cần nhìn nhận dự án như một quá trình liên tục gồm ba giai đoạn cơ bản là chuẩn bị dự án, thực hiện dự án và kết thúc xây dựng, đồng thời phải nhận diện những trường hợp pháp luật cho phép áp dụng trình tự riêng hoặc cho phép một số công việc được triển khai đồng thời thay vì hoàn toàn tuần tự.

Giai đoạn chuẩn bị dự án là giai đoạn hình thành những cơ sở ban đầu để xem xét và quyết định việc đầu tư. Đây là thời kỳ dự án chuyển từ ý tưởng, nhu cầu hoặc định hướng đầu tư sang một phương án có căn cứ về mục tiêu, quy mô, địa điểm, giải pháp, chi phí và các điều kiện triển khai. Chất lượng của giai đoạn chuẩn bị có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của toàn bộ dự án bởi nếu các điều kiện cơ bản chưa được nghiên cứu đầy đủ thì khi bước sang thiết kế và thi công có thể phát sinh nhiều thay đổi, ảnh hưởng đến tiến độ, chi phí và tổ chức thực hiện.

Một trong những công việc có thể được thực hiện ở giai đoạn này là lập và thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư nếu dự án thuộc trường hợp phải thực hiện. Đây là bước nghiên cứu ở cấp độ ban đầu để tạo cơ sở cho việc xem xét chủ trương đầu tư trước khi dự án được phát triển thành Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật.

Cần chú ý rằng quy định sử dụng cụm từ “nếu có”, do đó không thể hiểu tất cả dự án đầu tư xây dựng đều phải trải qua toàn bộ các thủ tục này. Việc một dự án có phải lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi hoặc Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư hay không phải được xác định theo loại dự án và quy định pháp luật tương ứng.

Đối với dự án có sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn ODA hoặc vốn vay ưu đãi nước ngoài, giai đoạn chuẩn bị còn có thể bao gồm việc lập đề xuất chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn này. Nội dung đó tiếp tục được áp dụng theo điều kiện “nếu có”.

Điều này cho thấy ngay trong giai đoạn chuẩn bị, trình tự thực hiện đã có thể khác nhau tùy nguồn vốn và tính chất của dự án. Vì vậy, không nên sử dụng một danh mục thủ tục duy nhất cho mọi dự án mà cần xác định trước đặc điểm pháp lý của dự án để nhận diện đúng các công việc phải thực hiện.

Một nội dung tiếp theo là lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch làm căn cứ lập dự án nếu có. Quy hoạch tạo cơ sở để dự án được nghiên cứu trong mối quan hệ với định hướng sử dụng không gian và các yêu cầu liên quan.

Việc đặt công tác quy hoạch trước hoặc trong quá trình lập dự án thể hiện nguyên tắc rằng phương án đầu tư không thể chỉ xuất phát từ nhu cầu riêng của công trình mà còn phải được xem xét trong bối cảnh không gian và định hướng phát triển tương ứng.

Sau khi có những cơ sở cần thiết, công tác khảo sát xây dựng phục vụ lập dự án được thực hiện. Khảo sát xây dựng cung cấp thông tin thực tế để phục vụ việc nghiên cứu phương án đầu tư.

Dữ liệu khảo sát có thể tác động trực tiếp đến việc lựa chọn vị trí, giải pháp xây dựng và các nội dung kỹ thuật khác. Vì vậy, khảo sát trong giai đoạn chuẩn bị phải được tổ chức phù hợp với mục đích lập dự án.

Cần phân biệt khảo sát phục vụ lập dự án với khảo sát phục vụ thiết kế triển khai sau khi dự án đã được phê duyệt. Khảo sát xuất hiện ở cả hai giai đoạn nhưng mục tiêu và mức độ thông tin cần thiết có thể khác nhau.

Kết quả khảo sát phục vụ lập dự án là một trong những cơ sở để lập Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật. Đây là nhóm hồ sơ có vai trò trung tâm trong giai đoạn chuẩn bị.

Tùy trường hợp, dự án được lập Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng. Báo cáo tương ứng phải được thẩm định trước khi dự án được phê duyệt và quyết định đầu tư theo trình tự áp dụng.

Có thể xem đây là giai đoạn các thông tin ban đầu được tổng hợp thành một phương án đầu tư tương đối hoàn chỉnh. Các vấn đề về mục tiêu, quy mô, địa điểm, giải pháp xây dựng, chi phí và tổ chức thực hiện được nghiên cứu ở mức độ tương ứng để tạo cơ sở ra quyết định.

Sau khi hồ sơ được lập và thẩm định là bước phê duyệt dự án và quyết định đầu tư xây dựng. Đây là ranh giới đặc biệt quan trọng giữa quá trình chuẩn bị và quá trình triển khai dự án.

Trước thời điểm này, dự án chủ yếu đang được nghiên cứu để quyết định. Sau khi được phê duyệt, những nội dung được xác định trong quyết định phê duyệt trở thành cơ sở quan trọng để tổ chức các bước thực hiện tiếp theo.

Vì vậy, quyết định phê duyệt dự án không chỉ có ý nghĩa cho phép dự án được triển khai mà còn thiết lập phạm vi quản lý đối với các bước sau. Thiết kế, chi phí, tiến độ và cách tổ chức thực hiện phải được kiểm soát trong mối quan hệ với nội dung đã được phê duyệt.

Giai đoạn chuẩn bị còn bao gồm việc tạm ứng và thanh toán khối lượng hoàn thành. Điều này cho thấy hoạt động tài chính của dự án không chỉ bắt đầu khi công trình được thi công.

Ngay trong quá trình chuẩn bị đã có thể phát sinh các hợp đồng và khối lượng công việc liên quan đến tư vấn, khảo sát hoặc những nhiệm vụ khác. Khi đủ điều kiện, việc tạm ứng và thanh toán được thực hiện tương ứng.

Ngoài các công việc cụ thể, giai đoạn chuẩn bị còn bao gồm những công việc được pháp luật cho phép thực hiện trước và các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án.

Quy định về công việc được phép thực hiện trước tạo ra khả năng linh hoạt về tiến độ. Tuy nhiên, cần đặc biệt lưu ý rằng chỉ những công việc được phép thực hiện trước theo quy định pháp luật mới có thể áp dụng cơ chế này. Không thể chỉ vì mục tiêu rút ngắn tiến độ mà tự chuyển bất kỳ công việc nào của giai đoạn sau lên thực hiện trước.

Sau khi dự án được phê duyệt, dự án chuyển trọng tâm từ “nghiên cứu để quyết định đầu tư” sang “tổ chức thực hiện quyết định đầu tư”. Đây là bản chất của giai đoạn thực hiện dự án.

Một trong những công việc quan trọng là chuẩn bị mặt bằng xây dựng và rà phá bom mìn nếu có. Mặt bằng là điều kiện trực tiếp để tổ chức thi công, do đó tiến độ chuẩn bị mặt bằng phải được phối hợp với tiến độ triển khai công trình.

Trong nhiều dự án, các hoạt động thiết kế, hợp đồng và chuẩn bị thi công có thể đã được triển khai nhưng nếu mặt bằng chưa đáp ứng thì công việc thực tế tại công trường vẫn có thể bị ảnh hưởng. Vì vậy, chuẩn bị mặt bằng không nên được nhìn như một thủ tục tách biệt mà phải được tích hợp vào kế hoạch tổng thể.

Tiếp theo là khảo sát xây dựng phục vụ thiết kế xây dựng triển khai sau khi dự án được phê duyệt. Đây là giai đoạn dữ liệu khảo sát được phát triển phù hợp với yêu cầu của bước thiết kế sau.

Khi lập nhiệm vụ khảo sát ở bước này cần xem xét những kết quả đã có, đồng thời xác định dữ liệu nào còn cần thiết cho việc phát triển thiết kế. Cách tiếp cận này bảo đảm tính kế thừa giữa khảo sát phục vụ lập dự án và khảo sát phục vụ thiết kế.

Trên cơ sở dữ liệu cần thiết, thiết kế xây dựng triển khai sau khi dự án được phê duyệt được lập, thẩm định và phê duyệt. Dự toán xây dựng cũng được thực hiện theo yêu cầu tương ứng.

Đây là quá trình chuyển các phương án đã được xác định ở cấp dự án thành giải pháp kỹ thuật đủ cơ sở để triển khai xây dựng. Thiết kế sau không tách rời dự án đã phê duyệt mà phải được quản lý trong mối quan hệ kế thừa với những nội dung trước đó.

Nếu công trình thuộc đối tượng phải có giấy phép xây dựng thì việc cấp giấy phép xây dựng là một công việc thuộc giai đoạn thực hiện dự án. Việc có phải thực hiện thủ tục này hay không cần căn cứ trường hợp cụ thể của công trình.

Tiếp theo là ký kết hợp đồng xây dựng. Hợp đồng xác lập cơ sở để các nhà thầu thực hiện những công việc được giao và quy định quyền, nghĩa vụ của các bên trong phạm vi tương ứng.

Sau khi có các điều kiện cần thiết, công trình được tổ chức thi công. Đây là giai đoạn các giải pháp trên hồ sơ được chuyển thành sản phẩm xây dựng thực tế.

Thi công phải được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với giám sát thi công xây dựng. Hai hoạt động này diễn ra gắn kết chứ không phải thi công hoàn thành toàn bộ rồi mới tổ chức giám sát.

Giám sát là một phần của cơ chế kiểm soát trong quá trình hình thành công trình. Thông qua giám sát, các công việc thực tế được theo dõi và kiểm tra trong mối quan hệ với hồ sơ thiết kế và những yêu cầu có liên quan.

Trong quá trình thực hiện dự án tiếp tục có hoạt động tạm ứng và thanh toán khối lượng hoàn thành. Điều này phản ánh nguyên tắc thanh toán được gắn với quá trình thực hiện hợp đồng và khối lượng công việc chứ không nhất thiết chờ toàn bộ công trình hoàn thành.

Khi công trình hoặc hệ thống đạt đến trạng thái cần thiết, việc vận hành và chạy thử được tổ chức nếu có yêu cầu. Đây là bước quan trọng để kiểm tra hoạt động thực tế trước khi công trình được nghiệm thu hoàn thành và bàn giao sử dụng.

Sau quá trình thi công và kiểm tra tương ứng là nghiệm thu hoàn thành công trình xây dựng. Nghiệm thu đánh dấu việc công trình đã đạt trạng thái được xem xét để chuyển sang khai thác, sử dụng.

Sau nghiệm thu hoàn thành là bàn giao công trình đưa vào sử dụng. Đây là một dấu mốc chuyển tiếp rất quan trọng nhưng không phải là điểm kết thúc toàn bộ dự án.

Sau khi bàn giao vẫn còn các nghĩa vụ về quyết toán hợp đồng, quyết toán vốn, bảo hành và hồ sơ. Vì vậy, cần phân biệt “hoàn thành thi công”, “nghiệm thu hoàn thành”, “bàn giao đưa vào sử dụng” và “kết thúc toàn bộ các nghĩa vụ của dự án”.

Quyết toán hợp đồng xây dựng có thể được thực hiện trong giai đoạn thực hiện dự án. Tuy nhiên, nếu còn những nội dung chưa hoàn thành thì quyết toán hợp đồng tiếp tục xuất hiện trong giai đoạn kết thúc xây dựng.

Điều này cho thấy ranh giới giữa các giai đoạn có ý nghĩa quản lý nhưng không phải lúc nào cũng là một đường cắt tuyệt đối đối với mọi công việc. Một số nghĩa vụ có thể bắt đầu ở giai đoạn trước và được hoàn thiện ở giai đoạn sau.

Ngoài những nội dung đã liệt kê, giai đoạn thực hiện còn bao gồm các công việc cần thiết khác liên quan đến thực hiện dự án. Đây là quy định mở để phù hợp với sự đa dạng của các dự án đầu tư xây dựng.

Khi công trình đã được xây dựng, nghiệm thu và bàn giao, dự án chuyển sang giai đoạn kết thúc xây dựng. Mục tiêu của giai đoạn này không còn tập trung vào việc hình thành công trình mà là hoàn thành các nghĩa vụ còn lại.

Trước hết là quyết toán hợp đồng xây dựng nếu có. Các nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng phải được hoàn tất theo quy định và nội dung hợp đồng tương ứng.

Tiếp theo là quyết toán vốn đầu tư xây dựng. Đây là nội dung cần phân biệt với quyết toán từng hợp đồng. Một dự án có thể có nhiều hợp đồng khác nhau, trong khi quyết toán vốn đầu tư liên quan đến tổng thể nguồn vốn và chi phí của dự án.

Bảo hành công trình cũng thuộc giai đoạn kết thúc xây dựng. Công trình đã được đưa vào sử dụng nhưng các nghĩa vụ bảo hành vẫn tiếp tục tồn tại trong thời gian tương ứng.

Điều này cho thấy kết thúc thi công không đồng nghĩa với kết thúc trách nhiệm của nhà thầu. Những nghĩa vụ sau bàn giao vẫn là một phần của chu trình đầu tư xây dựng.

Bàn giao các hồ sơ liên quan cũng là một công việc quan trọng. Hồ sơ không chỉ có giá trị chứng minh quá trình thực hiện mà còn phục vụ quản lý, vận hành, bảo trì, sửa chữa và các hoạt động có liên quan trong thời gian sử dụng công trình.

Do đó, việc hoàn thiện và bàn giao hồ sơ cần được quản lý ngay trong quá trình thực hiện dự án thay vì chờ đến cuối mới bắt đầu thu thập.

Ngoài ra, giai đoạn kết thúc còn bao gồm các công việc cần thiết khác liên quan đến dự án.

Nhìn tổng thể, ba giai đoạn tạo thành một chuỗi có thể khái quát bằng ba câu hỏi. Giai đoạn chuẩn bị trả lời “có đầu tư và đầu tư như thế nào?”. Giai đoạn thực hiện trả lời “làm thế nào để biến dự án đã được phê duyệt thành công trình?”. Giai đoạn kết thúc trả lời “làm thế nào để hoàn thành các nghĩa vụ còn lại sau khi công trình được hình thành?”.

Tuy nhiên, quy định đồng thời xác định một số trường hợp không áp dụng nguyên trạng trình tự chung.

Đối với dự án, công trình khẩn cấp, cấp bách, công trình tạm và dự án đầu tư công đặc biệt, trình tự đầu tư xây dựng được thực hiện theo các quy định tương ứng tại Điều 69, Điều 70, Điều 71 và Điều 72 của Nghị định.

Đây là nhóm dự án hoặc công trình có cơ chế riêng. Vì vậy, khi gặp một dự án thuộc nhóm này, bước đầu tiên không phải là áp dụng ngay toàn bộ trình tự chung mà phải xác định quy định đặc thù tương ứng.

Tuy nhiên, cơ chế đặc thù không có nghĩa toàn bộ quy định chung đều bị loại bỏ. Những nội dung khác vẫn thực hiện theo Nghị định và pháp luật có liên quan.

Nguyên tắc áp dụng có thể hiểu là: nội dung nào đã có quy định riêng thì áp dụng quy định riêng; nội dung nào không được cơ chế đặc thù điều chỉnh thì tiếp tục áp dụng quy định chung tương ứng.

Đối với dự án PPP, trình tự đầu tư xây dựng được thực hiện theo pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Đây là một cơ chế pháp lý riêng gắn với hình thức đầu tư của dự án.

Do đó, khi xác định trình tự một dự án PPP, cần bắt đầu từ pháp luật PPP thay vì lấy trình tự chung của dự án đầu tư xây dựng làm khuôn mẫu duy nhất.

Đối với dự án thực hiện theo hình thức hợp đồng chìa khóa trao tay, trình tự đầu tư xây dựng phải phù hợp với chủ trương đầu tư nếu có và nội dung của hợp đồng.

Quy định này phản ánh đặc điểm của hình thức chìa khóa trao tay, trong đó cách tổ chức các công việc có thể được tích hợp và phân chia trách nhiệm khác với mô hình hợp đồng thông thường.

Vì vậy, hợp đồng trở thành một trong những căn cứ quan trọng để xác định cách thức tổ chức thực hiện dự án, nhưng vẫn phải phù hợp với chủ trương đầu tư nếu dự án có chủ trương đầu tư.

Đối với các dự án không thuộc nhóm khẩn cấp, cấp bách, công trình tạm, dự án đầu tư công đặc biệt, PPP hoặc hợp đồng chìa khóa trao tay, quy định trao cho người quyết định đầu tư một quyền tổ chức rất đáng chú ý.

Tùy điều kiện cụ thể và yêu cầu kỹ thuật của dự án, người quyết định đầu tư được quyết định các công việc thuộc giai đoạn thực hiện dự án và giai đoạn kết thúc xây dựng được thực hiện tuần tự hoặc đồng thời.

Đây là cơ sở pháp lý tạo ra sự linh hoạt đáng kể về tiến độ. Tuy nhiên, “đồng thời” không có nghĩa tất cả các công việc có thể bắt đầu cùng một lúc mà không cần điều kiện.

Trước hết, việc quyết định phải căn cứ vào điều kiện cụ thể của dự án. Một dự án có mặt bằng, giải pháp kỹ thuật, cấu trúc hợp đồng và điều kiện triển khai khác nhau sẽ có khả năng tổ chức song song khác nhau.

Thứ hai, phải căn cứ yêu cầu kỹ thuật. Đây là giới hạn đặc biệt quan trọng bởi nhiều công việc có quan hệ kỹ thuật bắt buộc.

Ví dụ về nguyên tắc, dữ liệu cần thiết phải có trước khi giải pháp thiết kế tương ứng được hoàn thiện; thiết kế cần đạt trạng thái cần thiết trước khi sử dụng cho phần công việc xây dựng liên quan; công việc phải được thực hiện trước khi có thể nghiệm thu chính công việc đó. Vì vậy, không thể sử dụng quyền tổ chức đồng thời để đảo ngược các quan hệ kỹ thuật bắt buộc.

Thứ ba, việc tổ chức tuần tự hoặc đồng thời phải phù hợp với nội dung tại quyết định phê duyệt dự án. Đây là giới hạn về quản lý dự án.

Người quyết định đầu tư có thể tối ưu trình tự thực hiện nhưng không thể thông qua việc tổ chức đồng thời để làm thay đổi tùy ý nội dung dự án đã được phê duyệt.

Do đó, bản chất của việc thực hiện đồng thời là cho phép các công việc không phụ thuộc tuyệt đối vào nhau được triển khai chồng lấn hợp lý nhằm tối ưu tiến độ.

Có thể hình dung một dự án không nhất thiết phải chờ toàn bộ mọi công việc của một nhóm hoàn thành mới bắt đầu tất cả công việc của nhóm tiếp theo. Nếu một phần đã có đủ điều kiện pháp lý và kỹ thuật thì phần đó có thể được xem xét triển khai trong khi những phần độc lập khác tiếp tục được chuẩn bị, với điều kiện quyết định của người có thẩm quyền và yêu cầu quản lý được bảo đảm.

Cơ chế này giúp chuyển cách nhìn từ “trình tự tuyến tính tuyệt đối” sang “trình tự có điều kiện”. Công việc nào phụ thuộc vào kết quả của công việc khác thì phải bảo đảm quan hệ trước – sau. Công việc nào có thể độc lập và đủ điều kiện thì có thể được tổ chức song song.

Chính vì vậy, khi lập tiến độ tổng thể cho dự án, cần xác định rõ quan hệ phụ thuộc giữa các công việc. Không chỉ liệt kê thời gian bắt đầu và kết thúc mà phải nhận diện đầu vào của từng công việc.

Nếu đầu vào bắt buộc chưa có thì việc triển khai sớm có thể tạo ra rủi ro phải làm lại. Ngược lại, nếu đã đủ đầu vào nhưng vẫn chờ tất cả các phần không liên quan hoàn thành thì có thể kéo dài thời gian không cần thiết.

Đây là điểm cân bằng giữa tiến độ và kiểm soát rủi ro trong tổ chức đầu tư xây dựng.

Từ góc độ quản lý thực tế, toàn bộ trình tự có thể được kiểm tra bằng một chuỗi câu hỏi. Trước tiên, dự án thuộc loại nào và có cơ chế trình tự riêng hay không? Nếu có thì áp dụng quy định đặc thù tương ứng. Nếu không thì chuyển sang khung ba giai đoạn chung.

Tiếp theo, trong giai đoạn chuẩn bị cần xác định dự án có yêu cầu Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi hoặc đề xuất chủ trương đầu tư hay không; có sử dụng ODA hoặc vốn vay ưu đãi nước ngoài hay không; có yêu cầu quy hoạch hay không; khảo sát phục vụ lập dự án đã đáp ứng chưa; dự án phải lập Báo cáo nghiên cứu khả thi hay Báo cáo kinh tế - kỹ thuật; hồ sơ đã được thẩm định, phê duyệt và quyết định đầu tư hay chưa.

Sau khi dự án được phê duyệt, cần kiểm tra các điều kiện của giai đoạn thực hiện: mặt bằng, rà phá bom mìn nếu có, khảo sát phục vụ thiết kế, thiết kế và dự toán, giấy phép xây dựng nếu phải có, hợp đồng xây dựng, điều kiện tổ chức thi công, giám sát, tạm ứng, thanh toán, vận hành chạy thử, nghiệm thu và bàn giao.

Tiếp theo là các công việc của giai đoạn kết thúc: quyết toán hợp đồng còn lại, quyết toán vốn đầu tư, bảo hành và bàn giao hồ sơ.

Sau khi xác định danh mục công việc, mới xem xét nội dung nào phải thực hiện tuần tự và nội dung nào có thể đồng thời. Đây là bước quan trọng bởi việc tổ chức song song phải là kết quả của phân tích điều kiện chứ không phải giả định mặc định.

Một cách tiếp cận phù hợp là xác định đối với từng công việc: cơ sở pháp lý cần có là gì; dữ liệu kỹ thuật đầu vào là gì; công việc nào phải hoàn thành trước; công việc nào có thể thực hiện song song; kết quả của công việc được sử dụng cho bước nào; và nếu thực hiện sớm thì rủi ro phải điều chỉnh hoặc làm lại là gì.

Cách quản lý này giúp duy trì được cả hai mục tiêu: rút ngắn tiến độ trong phạm vi có thể và bảo đảm không phá vỡ trình tự kỹ thuật, pháp lý cần thiết.

Từ toàn bộ quy định có thể thấy trình tự đầu tư xây dựng không nên được hiểu đơn giản là “chuẩn bị xong toàn bộ rồi mới thực hiện, thực hiện xong toàn bộ rồi mới kết thúc”. Ba giai đoạn vẫn là khung quản lý cơ bản nhưng bên trong khung đó tồn tại khả năng tổ chức linh hoạt.

Một số công việc được pháp luật cho phép thực hiện trước ngay trong giai đoạn chuẩn bị. Một số công việc thuộc giai đoạn thực hiện và kết thúc có thể được người quyết định đầu tư cho phép triển khai đồng thời. Một số loại dự án lại có trình tự riêng hoàn toàn hoặc một phần.

Do đó, để xác định đúng trình tự của một dự án cụ thể cần kết hợp bốn yếu tố: loại dự án, nguồn vốn hoặc hình thức đầu tư, yêu cầu kỹ thuật và quyết định của chủ thể có thẩm quyền.

Tóm lại, trình tự đầu tư xây dựng được thiết lập trên nền tảng ba giai đoạn nhưng được tổ chức theo nguyên tắc có điều kiện và có khả năng linh hoạt. Giai đoạn chuẩn bị tập trung hình thành cơ sở cho quyết định đầu tư thông qua nghiên cứu tiền khả thi hoặc đề xuất chủ trương đầu tư nếu có, chuẩn bị chương trình hoặc dự án ODA và vốn vay ưu đãi nếu có, quy hoạch, khảo sát, lập và thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật, phê duyệt dự án, quyết định đầu tư, thanh toán các công việc tương ứng và thực hiện những công việc được pháp luật cho phép thực hiện trước. Giai đoạn thực hiện tập trung biến quyết định đầu tư thành công trình thông qua chuẩn bị mặt bằng, khảo sát phục vụ thiết kế, thiết kế và dự toán, giấy phép xây dựng nếu phải có, hợp đồng, thi công, giám sát, thanh toán, chạy thử, nghiệm thu, bàn giao và quyết toán hợp đồng. Giai đoạn kết thúc tiếp tục hoàn thiện quyết toán hợp đồng nếu có, quyết toán vốn đầu tư, bảo hành, bàn giao hồ sơ và những nghĩa vụ liên quan. Đối với dự án, công trình khẩn cấp, cấp bách, công trình tạm và dự án đầu tư công đặc biệt thì áp dụng trình tự riêng theo các điều khoản tương ứng; dự án PPP thực hiện theo pháp luật PPP; dự án theo hợp đồng chìa khóa trao tay thực hiện phù hợp với chủ trương đầu tư nếu có và nội dung hợp đồng. Đối với các dự án còn lại, người quyết định đầu tư có thể căn cứ điều kiện cụ thể và yêu cầu kỹ thuật để quyết định những công việc thuộc giai đoạn thực hiện và kết thúc được triển khai tuần tự hoặc đồng thời, nhưng phải phù hợp với quyết định phê duyệt dự án. Vì vậy, nguyên tắc xuyên suốt của trình tự đầu tư xây dựng có thể được hiểu là: công việc nào cần kết quả của công việc trước thì phải bảo đảm đúng quan hệ điều kiện; công việc nào đủ cơ sở và có thể độc lập thì có thể được tổ chức song song khi được quyết định phù hợp; mọi sự linh hoạt về tiến độ cuối cùng vẫn phải bảo đảm dự án được triển khai đúng nội dung phê duyệt, có đầy đủ cơ sở pháp lý và kỹ thuật, đồng thời duy trì được khả năng kiểm soát từ thời điểm chuẩn bị đầu tư cho đến khi hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ của dự án.

 

CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ & THIẾT KẾ XÂY DỰNG MINH PHƯƠNG

Địa chỉ: Số 28B Mai Thị Lựu, Phường Đa Kao, Q.1, TPHCM

Hotline:  0903649782 - (028) 3514 6426

Email: nguyenthanhmp156@gmail.com

 


Tin tức liên quan

Giấy phép xây dựng cho toàn bộ công trình thuộc dự án
Giấy phép xây dựng cho toàn bộ công trình thuộc dự án

74 Lượt xem

Xin giấy phép cho toàn bộ công trình thuộc dự án

Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới
Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới

52 Lượt xem

Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới

Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng
Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng

59 Lượt xem

Quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng

Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng
Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng

44 Lượt xem

Các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng

Lập dự án đầu tư xây dựng

59 Lượt xem

Báo cáo lập dự án đầu tư xây dựng, đồng thời làm rõ thời điểm bắt buộc áp dụng, dữ liệu BIM

Áp dụng tiêu chuẩn trong hoạt động xây dựng
Áp dụng tiêu chuẩn trong hoạt động xây dựng

43 Lượt xem

Áp dụng tiêu chuẩn trong hoạt động xây dựng và lập dự án đầu tư


Bình luận
  • Đánh giá của bạn
Đã thêm vào giỏ hàng