Dự Thảo Luật Bảo Vệ Môi Trường 2026: 5 Điểm Mới Đáng Chú Ý
Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường 2026 đề xuất giảm thủ tục ĐTM, giấy phép môi trường, phân loại dự án theo rủi ro và thúc đẩy chuyển đổi số.
Ngày 24/10/2026, tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, đã trình bày Tờ trình về hai dự án luật quan trọng gồm Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
Hai dự án luật tập trung vào cải cách thủ tục hành chính, phân cấp thẩm quyền, chuyển đổi số trong quản lý môi trường, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và hoàn thiện cơ chế quản lý tài nguyên biển.
Đáng chú ý, dự thảo Luật Bảo vệ môi trường 2026 đề xuất thu hẹp đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường (ĐTM), giảm đối tượng phải có giấy phép môi trường và đơn giản hóa việc phân loại dự án đầu tư theo mức độ rủi ro.
Những đề xuất này được kỳ vọng góp phần giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, đồng thời tăng cường kiểm soát các dự án có nguy cơ gây ô nhiễm cao.
Thông tin về phiên trình dự án luật đã được Cổng Thông tin điện tử Quốc hội xác nhận trong Thông cáo báo chí số 8 ngày 24/10/2026.
1. Quốc hội xem xét sửa đổi hai luật quan trọng về tài nguyên và môi trường
Việc sửa đổi các quy định về môi trường và tài nguyên biển xuất phát từ yêu cầu tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật, cải cách thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh và gia tăng nhu cầu khai thác tài nguyên, hệ thống pháp luật cần được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
1.1. Hai dự án luật được trình Quốc hội ngày 24/10/2026
Hai dự án luật gồm:
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường
Tập trung cải cách thủ tục môi trường, giảm đối tượng phải thực hiện ĐTM, giấy phép môi trường, tăng cường chuyển đổi số và quản lý chất thải theo hướng kinh tế tuần hoàn.
Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi)
Tập trung hoàn thiện cơ chế quản lý không gian biển, giao và cho thuê khu vực biển, xác lập quyền sử dụng khu vực biển và xây dựng hệ thống dữ liệu phục vụ quản lý tài nguyên.
Theo Tờ trình của Chính phủ, việc sửa đổi nhằm tháo gỡ bất cập và tạo hành lang pháp lý phù hợp hơn với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
1.2. Tình trạng pháp lý của hai dự án luật
Tính đến ngày 26/10/2026, hai nội dung nêu trên đang ở giai đoạn Quốc hội xem xét dự án luật.
Cần phân biệt rõ:
-
Dự thảo luật: Những nội dung được đề xuất và đang trong quá trình xem xét, thảo luận.
-
Luật đã được thông qua: Văn bản được Quốc hội biểu quyết thông qua theo trình tự luật định.
-
Quy định có hiệu lực: Nội dung pháp luật được áp dụng từ thời điểm hiệu lực được xác định.
Vì vậy, doanh nghiệp chưa được tự động áp dụng các đề xuất cắt giảm ĐTM hoặc giấy phép môi trường khi dự án luật chưa được thông qua và có hiệu lực.
2. Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường 2026 đề xuất sửa đổi 79/171 điều
Một trong những nội dung nổi bật tại phiên họp là quy mô sửa đổi của dự thảo Luật Bảo vệ môi trường.
Theo Tờ trình, dự thảo sửa đổi, bổ sung 79 trên tổng số 171 điều của Luật Bảo vệ môi trường hiện hành và bổ sung ba điều mới.
Các nội dung sửa đổi hướng đến đơn giản hóa thủ tục hành chính, chuyển đổi phương thức quản lý và tăng hiệu quả kiểm soát ô nhiễm.
2.1. Đề xuất cắt giảm đối tượng phải lập báo cáo ĐTM
Theo dự thảo, đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường được đề xuất thu hẹp, tập trung vào những dự án có mức độ rủi ro môi trường đáng kể.
Các định hướng chính gồm:
-
Giảm đối tượng phải thực hiện ĐTM.
-
Đơn giản hóa thành phần hồ sơ.
-
Rút gọn nội dung và trình tự thực hiện.
-
Phân định thẩm quyền theo mức độ rủi ro.
-
Tăng cường phân cấp cho địa phương.
-
Thực hiện thẩm định qua môi trường điện tử.
Đề xuất này có thể giúp những dự án có nguy cơ tác động thấp giảm thời gian và chi phí thực hiện thủ tục.
Tuy nhiên, việc cắt giảm đối tượng phải lập ĐTM cần đi cùng cơ chế phân loại rủi ro chính xác và hoạt động kiểm tra, giám sát hiệu quả.
2.2. Đề xuất giảm đối tượng phải có giấy phép môi trường
Bên cạnh ĐTM, dự thảo cũng đề xuất thu hẹp phạm vi các dự án, cơ sở phải có giấy phép môi trường.
Một số đối tượng được định hướng chuyển sang thực hiện đăng ký môi trường thay vì thủ tục cấp giấy phép.
Đồng thời, hoạt động cấp, điều chỉnh giấy phép môi trường được đề xuất triển khai trên hệ thống điện tử trực tuyến.
Nếu được thông qua, thay đổi này có thể tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc chuẩn bị hồ sơ, thực hiện thủ tục và theo dõi quá trình giải quyết.
Tuy nhiên, việc giảm thủ tục hành chính không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được miễn các yêu cầu về xử lý chất thải, kiểm soát ô nhiễm và tuân thủ quy chuẩn môi trường.
2.3. Đề xuất phân loại dự án đầu tư thành 3 nhóm
Một điểm mới đáng chú ý của dự thảo là chủ trương đơn giản hóa phân loại dự án đầu tư theo mức độ rủi ro.
Theo phương án được thảo luận, dự án có thể được phân thành ba nhóm thay vì bốn nhóm như cơ chế hiện hành.
|
Nhóm dự án theo đề xuất |
Mức độ rủi ro |
|
Nhóm I |
Có nguy cơ tác động xấu đến môi trường ở mức độ cao |
|
Nhóm II |
Có nguy cơ tác động xấu đến môi trường |
|
Nhóm III |
Ít có nguy cơ tác động xấu đến môi trường |
Theo nội dung dự thảo đã được công bố trước kỳ họp, phương án quản lý cũng được định hướng tương ứng với mức độ rủi ro: dự án nhóm I thuộc diện ĐTM áp dụng quy trình thẩm định đầy đủ, dự án nhóm II thuộc diện ĐTM áp dụng quy trình đơn giản, trong khi nhóm III được định hướng chuyển sang cơ chế đăng ký môi trường.
Đây vẫn là phương án được đề xuất, chưa phải quy định mới có hiệu lực.
2.4. Yêu cầu kiểm soát các dự án có nguy cơ ô nhiễm cao
Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường tán thành định hướng giảm thủ tục nhưng đề nghị phải kiểm soát chặt các yếu tố rủi ro.
Những vấn đề được lưu ý gồm:
-
Dự án gần khu dân cư tập trung.
-
Dự án có khả năng ảnh hưởng đến nguồn nước cấp sinh hoạt.
-
Dự án phát sinh lượng lớn khí thải, nước thải.
-
Dự án phát sinh chất thải độc hại.
-
Dự án sử dụng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất.
Đặc biệt, cơ quan thẩm tra đề nghị cân nhắc thận trọng việc miễn ĐTM đối với dự án thứ cấp trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp nếu có nguồn thải lớn hoặc yếu tố nguy cơ cao.
Điều này thể hiện định hướng: giảm thủ tục cho dự án rủi ro thấp nhưng không giảm mức độ kiểm soát đối với dự án có nguy cơ ô nhiễm cao.
3. Những thay đổi đáng chú ý trong quản lý môi trường và chất thải
Ngoài cải cách thủ tục ĐTM và giấy phép môi trường, dự thảo Luật Bảo vệ môi trường còn đề xuất các chính sách liên quan đến chuyển đổi số, quản lý chất thải, chất lượng môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu.
Đây là những nội dung có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và trách nhiệm quản lý môi trường của doanh nghiệp.
3.1. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý môi trường
Dự thảo đề xuất tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, dữ liệu điện tử và các phương thức giám sát hiện đại trong quản lý môi trường.
Những nội dung chính gồm:
-
Tạo lập, cập nhật dữ liệu môi trường điện tử.
-
Tăng cường kết nối và chia sẻ dữ liệu.
-
Giám sát nguy cơ ô nhiễm bằng công nghệ số.
-
Nhận diện, cảnh báo sớm các sự cố môi trường.
-
Thực hiện thủ tục môi trường trực tuyến.
Định hướng này nhằm chuyển dần từ quản lý chủ yếu dựa trên hồ sơ hành chính sang quản lý kết hợp dữ liệu, mức độ rủi ro và giám sát thực tế.
Đối với doanh nghiệp, việc chuẩn hóa dữ liệu môi trường có thể trở thành yêu cầu ngày càng quan trọng trong quá trình vận hành.
3.2. Thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và tái chế chất thải
Dự thảo tiếp tục hoàn thiện các quy định về tái chế, tái sử dụng và quản lý chất thải.
Một số nội dung được đề xuất gồm:
-
Hoàn thiện cơ chế phân loại chất thải rắn sinh hoạt.
-
Quy định trách nhiệm cập nhật dữ liệu phát sinh và xử lý chất thải.
-
Tăng cường quản lý vật liệu tái chế, thu hồi từ chất thải.
-
Thúc đẩy sử dụng nguyên liệu tái chế.
-
Hoàn thiện chính sách trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR).
Đối với phân loại chất thải sinh hoạt, cơ quan thẩm tra đề nghị nghiên cứu phương án phù hợp với điều kiện hạ tầng thực tế của địa phương.
Đáng chú ý, phương án cho phép địa phương trước mắt phân loại thành hai nhóm gồm chất thải tái chế và chất thải khác được đề cập như một giải pháp chuyển tiếp có thể xem xét.
Tuy nhiên, đây mới là kiến nghị trong quá trình thẩm tra, chưa phải quy định thống nhất được áp dụng trên toàn quốc.
3.3. Tăng cường quản lý chất lượng không khí và nước
Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường cũng hướng đến hoàn thiện công cụ quản lý chất lượng môi trường theo khả năng chịu tải.
Các chính sách được đề xuất tập trung vào:
-
Tăng cường dự báo chất lượng môi trường không khí.
-
Hoàn thiện hoạt động kiểm kê khí thải.
-
Nghiên cứu thiết lập vùng phát thải thấp.
-
Kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm.
-
Nâng cao năng lực cảnh báo ô nhiễm môi trường nước.
Những đề xuất này hướng tới việc phòng ngừa ô nhiễm ngay từ nguồn phát sinh, thay vì chỉ xử lý khi môi trường đã bị suy giảm chất lượng.
3.4. Hoàn thiện quản lý phát thải khí nhà kính và thị trường carbon
Một nội dung đáng chú ý khác là hoàn thiện quy định về quản lý phát thải khí nhà kính và thị trường carbon trong nước.
Dự thảo đề cập đến:
-
Quản lý và kiểm kê phát thải khí nhà kính.
-
Phân bổ hạn ngạch phát thải.
-
Trách nhiệm thực hiện mục tiêu giảm phát thải quốc gia.
-
Quản lý tín chỉ carbon.
-
Hoạt động của thị trường và sàn giao dịch carbon.
-
Quản lý những chất thải, chất được kiểm soát theo quy định.
Nếu các chính sách được thông qua, doanh nghiệp thuộc phạm vi điều chỉnh có thể cần tăng cường năng lực theo dõi và quản lý dữ liệu phát thải.
4. Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi có gì mới?
Cùng với dự án Luật Bảo vệ môi trường, Quốc hội xem xét dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).
Theo Tờ trình, dự thảo gồm 6 chương và 76 điều, giảm 4 chương và 5 điều so với luật năm 2015.
Trọng tâm sửa đổi là hoàn thiện cơ chế quản lý không gian biển, quyền sử dụng khu vực biển và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý.
4.1. Quy hoạch không gian biển trở thành công cụ quản lý trung tâm
Dự thảo xác định quy hoạch không gian biển quốc gia giữ vai trò quan trọng trong phân bổ tài nguyên và điều phối các hoạt động sử dụng biển.
Việc quản lý được định hướng nhằm:
-
Phân bổ hợp lý không gian biển.
-
Hạn chế xung đột giữa các ngành kinh tế.
-
Tăng cường phối hợp liên ngành, liên vùng.
-
Kết nối và chia sẻ dữ liệu quản lý.
-
Bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.
Đối với những dự án điện gió ngoài khơi, dầu khí, nuôi biển công nghiệp hoặc hạ tầng biển, quy hoạch không gian biển là một trong những căn cứ quan trọng để xác định khả năng triển khai.
4.2. Bổ sung cơ chế giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển
Dự thảo đề xuất hoàn thiện các hình thức sử dụng khu vực biển, bao gồm:
-
Giao khu vực biển.
-
Cho thuê khu vực biển.
-
Xác nhận đăng ký sử dụng khu vực biển theo trường hợp quy định.
Đồng thời, dự thảo nghiên cứu các cơ chế về đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, sử dụng chung và sử dụng đa mục đích.
Theo cơ quan thẩm tra, cần làm rõ bản chất pháp lý, điều kiện áp dụng, quyền và nghĩa vụ của người được giao hoặc thuê khu vực biển.
Đây là vấn đề quan trọng đối với những dự án có quy mô vốn lớn và thời gian khai thác dài.
4.3. Làm rõ quyền sử dụng khu vực biển và tài sản gắn liền
Dự thảo đề cập đến việc cấp giấy chứng nhận, đăng ký biến động và quản lý hồ sơ về quyền sử dụng khu vực biển.
Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị tiếp tục làm rõ các nội dung liên quan đến:
-
Quyền chuyển nhượng.
-
Quyền cho thuê lại.
-
Quyền góp vốn.
-
Quyền thế chấp.
-
Quyền sở hữu công trình, tài sản trên biển.
-
Mối quan hệ giữa quyền sử dụng khu vực biển với các giấy phép chuyên ngành.
Cần phân biệt quyền sử dụng khu vực biển với quyền sở hữu biển. Theo định hướng dự thảo, việc giao, cho thuê hoặc đăng ký sử dụng khu vực biển không đồng nghĩa với việc xác lập quyền sở hữu đối với biển, đáy biển hoặc khối nước biển.
4.4. Hoàn thiện cơ chế quản lý công trình và đảo nhân tạo trên biển
Đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình, hạ tầng hoặc đảo nhân tạo trên biển, dự thảo đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế đăng ký và quản lý quyền tài sản.
Cơ quan thẩm tra đề nghị làm rõ việc đăng ký quyền sở hữu công trình, tài sản và đảo nhân tạo gắn với khu vực biển.
Việc hoàn thiện quy định này có ý nghĩa đối với khả năng huy động vốn, chuyển giao dự án và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư.
Tuy nhiên, các quyền cụ thể vẫn cần tiếp tục được nghiên cứu và xác định trong văn bản luật chính thức.
5. Hai dự án luật có thể tác động như thế nào đến doanh nghiệp?
Việc sửa đổi hai luật có thể tạo ra những thay đổi đáng chú ý trong hoạt động đầu tư, sản xuất và quản lý môi trường.
Mặc dù các chính sách hiện vẫn đang được Quốc hội xem xét, doanh nghiệp nên chủ động theo dõi để chuẩn bị cho những yêu cầu pháp lý có thể phát sinh.
5.1. Đối với doanh nghiệp chuẩn bị đầu tư dự án mới
Nếu các đề xuất về phân loại rủi ro và cắt giảm thủ tục được thông qua, một số dự án có thể được đơn giản hóa thủ tục môi trường.
Điều này có khả năng giảm chi phí chuẩn bị hồ sơ và thời gian thực hiện thủ tục.
Tuy nhiên, doanh nghiệp cần xác định chính xác nhóm dự án, nguồn phát thải và yếu tố nhạy cảm về môi trường trước khi áp dụng.
5.2. Đối với doanh nghiệp đang thực hiện ĐTM và giấy phép môi trường
Những doanh nghiệp đang chuẩn bị hoặc đã nộp hồ sơ cần tiếp tục thực hiện theo quy định có hiệu lực tại thời điểm giải quyết thủ tục và các điều khoản chuyển tiếp tương ứng.
Không nên tự ý dừng việc lập báo cáo ĐTM hoặc đề nghị cấp giấy phép môi trường chỉ vì dự thảo đang đề xuất giảm đối tượng thực hiện.
Đối với dự án có nguồn thải lớn hoặc nguy cơ gây ô nhiễm cao, yêu cầu quản lý môi trường có thể tiếp tục được duy trì hoặc tăng cường.
5.3. Đối với doanh nghiệp có hoạt động trên biển
Những doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển, dầu khí và hạ tầng biển cần theo dõi các đề xuất về quyền sử dụng khu vực biển.
Đặc biệt, các nội dung về cho thuê, đăng ký, chuyển nhượng, thế chấp và quyền sở hữu tài sản trên biển có thể ảnh hưởng đến cấu trúc đầu tư và khả năng huy động vốn của dự án.
5.4. Những việc doanh nghiệp nên chuẩn bị
Trong giai đoạn chờ Quốc hội xem xét và hoàn thiện dự thảo, doanh nghiệp nên:
-
Rà soát nghĩa vụ ĐTM, giấy phép môi trường hiện tại.
-
Kiểm tra nguồn phát sinh chất thải và yếu tố nhạy cảm môi trường.
-
Chuẩn hóa dữ liệu quan trắc, quản lý chất thải và phát thải.
-
Theo dõi nội dung sửa đổi liên quan trực tiếp đến ngành nghề hoạt động.
-
Kiểm tra quy định chuyển tiếp khi luật mới được thông qua.
-
Chủ động cập nhật kế hoạch thực hiện các thủ tục môi trường.
Việc chuẩn bị sớm giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro trong giai đoạn chuyển tiếp giữa các quy định pháp luật.
Kết luận
Việc Quốc hội xem xét hai dự án luật về bảo vệ môi trường và tài nguyên biển ngày 24/10/2026 đánh dấu bước tiếp tục hoàn thiện chính sách theo hướng cải cách thủ tục hành chính, tăng cường phân cấp và ứng dụng công nghệ số.
Đáng chú ý, dự thảo Luật Bảo vệ môi trường 2026 đề xuất giảm đối tượng phải thực hiện ĐTM, giấy phép môi trường và đơn giản hóa phân loại dự án theo mức độ rủi ro.
Trong khi đó, dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo hướng đến hoàn thiện cơ chế quản lý không gian biển, sử dụng khu vực biển và bảo đảm cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư trên biển.
Tuy nhiên, các nội dung này hiện vẫn là đề xuất trong quá trình lập pháp. Doanh nghiệp cần tiếp tục tuân thủ pháp luật đang có hiệu lực, đồng thời theo dõi kết quả xem xét, thông qua và các văn bản hướng dẫn tiếp theo.
Câu hỏi thường gặp về dự thảo Luật Bảo vệ môi trường 2026
Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi năm 2026 chưa?
Theo thông tin được kiểm tra đến ngày 26/10/2026, Quốc hội đã nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra tại phiên họp ngày 24/10/2026. Đây là giai đoạn xem xét dự án luật, chưa phải căn cứ xác nhận những nội dung sửa đổi đã có hiệu lực.
Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường có bỏ thủ tục ĐTM không?
Không phải bỏ toàn bộ thủ tục ĐTM. Dự thảo đề xuất thu hẹp đối tượng phải thực hiện và áp dụng cơ chế quản lý phù hợp hơn với mức độ rủi ro môi trường của dự án.
Dự thảo có đề xuất giảm đối tượng phải có giấy phép môi trường không?
Có. Theo Tờ trình, dự thảo đề xuất giảm đối tượng phải có giấy phép môi trường và chuyển một số trường hợp sang đăng ký môi trường.
Dự án đầu tư có được phân thành 3 nhóm thay vì 4 nhóm không?
Dự thảo đang đề xuất phương án phân loại dự án thành ba nhóm theo mức độ nguy cơ tác động xấu đến môi trường. Việc áp dụng phải chờ kết quả thông qua và thời điểm có hiệu lực của quy định chính thức.
Doanh nghiệp đang lập ĐTM có nên chờ luật mới không?
Doanh nghiệp không nên tự ý trì hoãn hoặc dừng thủ tục đang phải thực hiện theo quy định hiện hành. Cần căn cứ vào nghĩa vụ pháp lý của dự án và các quy định chuyển tiếp khi luật mới được ban hành.
Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có quy định về cho thuê khu vực biển không?
Có. Dự thảo đề xuất hoàn thiện cơ chế giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển, đồng thời tiếp tục làm rõ quyền, nghĩa vụ và cơ sở pháp lý của các hình thức sử dụng này.

CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ & THIẾT KẾ XÂY DỰNG MINH PHƯƠNG
Địa chỉ: Số 28B Mai Thị Lựu, Phường Đa Kao, Q.1, TPHCM
Hotline: 0903649782 - (028) 3514 6426
Email: nguyenthanhmp156@gmail.com



Xem thêm