Giấy phép xây dựng cho toàn bộ công trình thuộc dự án
Xin giấy phép cho toàn bộ công trình thuộc dự án
Xin giấy phép xây dựng cho toàn bộ công trình thuộc dự án
Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng cho toàn bộ công trình thuộc dự án hoặc cho một nhóm công trình thuộc dự án là trường hợp hồ sơ được tổ chức chung cho nhiều công trình nằm trong cùng một dự án. Điểm đặc thù của trường hợp này không nằm ở việc tạo ra một hệ thống tài liệu hoàn toàn khác so với hồ sơ cấp giấy phép xây dựng mới, mà ở cách xác định phạm vi đề nghị cấp phép và cách tập hợp tài liệu tương ứng với phạm vi đó. Nếu hồ sơ cấp phép cho một công trình riêng lẻ chủ yếu tập trung vào một đối tượng xây dựng cụ thể thì hồ sơ cấp phép cho nhóm công trình hoặc toàn bộ công trình thuộc dự án phải đồng thời bảo đảm hai yêu cầu: từng công trình thuộc phạm vi đề nghị phải có hồ sơ thiết kế tương ứng và toàn bộ các tài liệu trong hồ sơ phải thống nhất về phạm vi dự án, đất đai và danh mục công trình. Vì vậy, nguyên tắc xuyên suốt khi lập hồ sơ là xác định trước “xin phép cho những công trình nào”, sau đó lấy danh mục đó làm căn cứ để kiểm tra lần lượt đơn đề nghị, giấy tờ đất đai, tài liệu pháp lý của dự án, các kết quả thủ tục có liên quan và bộ bản vẽ thiết kế của từng công trình.
Trước khi chuẩn bị tài liệu, cần phân biệt rõ hai phạm vi mà quy định cho phép thực hiện thủ tục.
Phạm vi thứ nhất là toàn bộ công trình thuộc dự án. Trong trường hợp này, chủ đầu tư đề nghị cấp giấy phép xây dựng cho toàn bộ các công trình thuộc phạm vi dự án được đưa vào hồ sơ.
Phạm vi thứ hai là một nhóm công trình thuộc dự án. Chủ đầu tư không đề nghị cấp phép cho toàn bộ các công trình mà xác định một nhóm công trình cụ thể để thực hiện thủ tục.
Việc lựa chọn phạm vi nào có ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ quá trình lập hồ sơ.
Nếu đề nghị cấp phép cho toàn bộ công trình thì giấy tờ đất đai, tài liệu dự án và bộ bản vẽ phải được kiểm soát trên phạm vi toàn bộ công trình thuộc dự án.
Nếu chỉ đề nghị cấp phép cho một nhóm công trình thì hồ sơ phải được tổ chức tương ứng với chính nhóm đó.
Do vậy, trước khi lập Đơn đề nghị cấp giấy phép xây dựng, một bước quản lý rất hữu ích là xác định chính xác danh mục các công trình thuộc phạm vi xin phép.
Danh mục này không phải là một thành phần hồ sơ bổ sung được quy định trong nội dung đang phân tích, mà là công cụ để chủ đầu tư kiểm soát nội bộ.
Ví dụ, một dự án có nhiều công trình được ký hiệu A, B, C, D và E. Nếu chủ đầu tư đề nghị cấp giấy phép cho nhóm A, B và C thì tất cả các bước kiểm tra tiếp theo phải lấy A, B và C làm phạm vi. Không nên để đơn đề nghị thể hiện A, B, C nhưng bộ bản vẽ lại có thêm D hoặc thiếu C mà không được kiểm soát.
Nếu đề nghị cấp phép cho toàn bộ A, B, C, D và E thì phải bảo đảm bộ hồ sơ thiết kế của từng công trình trong phạm vi đó được tập hợp tương ứng.
Tài liệu đầu tiên của hồ sơ là Đơn đề nghị cấp giấy phép xây dựng theo Mẫu số 01 Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định.
Đơn đề nghị là tài liệu xác lập chính thức phạm vi mà chủ đầu tư đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét cấp phép.
Vì vậy, có thể xem đơn là điểm khởi đầu của toàn bộ chuỗi kiểm tra hồ sơ.
Thông tin trong đơn cần thống nhất với tên dự án, phạm vi nhóm công trình hoặc toàn bộ công trình và những thông tin có liên quan trong các tài liệu còn lại.
Đối với dự án có nhiều công trình, việc thống nhất tên gọi và ký hiệu đặc biệt quan trọng.
Một công trình có thể được gọi theo tên chức năng trong quyết định phê duyệt dự án nhưng lại được ký hiệu bằng mã trong bản vẽ. Nếu cách thể hiện không được kiểm soát, việc đối chiếu giữa các tài liệu có thể gặp khó khăn.
Do đó, khi chuẩn bị hồ sơ, cần bảo đảm có thể nhận diện rõ mỗi công trình trong đơn tương ứng với công trình nào trong hồ sơ thiết kế.
Sau khi xác định phạm vi bằng đơn đề nghị, thành phần thứ hai là một trong các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng theo Điều 55 của Nghị định đối với nhóm công trình hoặc toàn bộ dự án.
Đây là điểm thể hiện rất rõ nguyên tắc tương ứng về phạm vi.
Quy định không chỉ nói chung rằng hồ sơ phải có giấy tờ hợp pháp về đất đai mà xác định giấy tờ đó là của nhóm công trình hoặc toàn bộ dự án.
Do đó, khi xin cấp phép cho một nhóm công trình, cần kiểm tra cơ sở pháp lý về đất đai tương ứng với phạm vi của nhóm đó.
Khi xin cấp phép cho toàn bộ công trình thuộc dự án, việc kiểm tra giấy tờ đất đai phải được đặt trong phạm vi toàn bộ dự án tương ứng.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với những dự án có diện tích lớn, nhiều khu đất hoặc nhiều công trình được bố trí tại các khu vực khác nhau.
Không nên chỉ kiểm tra dự án có một giấy tờ đất đai hay không mà cần xác định giấy tờ được sử dụng có thuộc một trong các loại giấy tờ hợp pháp theo Điều 55 và có tương ứng với phạm vi công trình đề nghị cấp phép hay không.
Nếu dự án chỉ sử dụng một khu đất và toàn bộ công trình đều nằm trong phạm vi đó thì việc đối chiếu có thể tương đối trực tiếp.
Nếu dự án gồm nhiều phần đất hoặc nhiều căn cứ pháp lý về đất đai khác nhau thì cần kiểm soát mối liên hệ giữa từng phần đất với các công trình thuộc phạm vi xin phép.
Có thể hình dung một nguyên tắc kiểm tra đơn giản: công trình nào được đưa vào phạm vi cấp phép thì vị trí của công trình đó phải nằm trong phạm vi có căn cứ đất đai tương ứng được sử dụng cho hồ sơ.
Khi kết hợp với quy định chung về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng, nếu giấy tờ hợp pháp về đất đai đã có trên cơ sở dữ liệu quốc gia thì chủ đầu tư không phải nộp lại.
Tuy nhiên, nguyên tắc không phải nộp lại không làm thay đổi yêu cầu phải xác định đúng căn cứ đất đai.
Nói cách khác, có hai câu hỏi hoàn toàn khác nhau.
Câu hỏi thứ nhất là nhóm công trình hoặc toàn bộ dự án có giấy tờ hợp pháp về đất đai tương ứng hay không.
Câu hỏi thứ hai là giấy tờ đó đã có trên cơ sở dữ liệu quốc gia để chủ đầu tư không phải nộp lại hay chưa.
Không nên vì được miễn nộp lại tài liệu đã có trong cơ sở dữ liệu mà bỏ qua bước xác định phạm vi pháp lý của đất.
Sau giấy tờ đất đai là nhóm tài liệu được quy định thông qua việc dẫn chiếu đến điểm c khoản 1 Điều 57 của Nghị định.
Nhóm này trước hết bao gồm Quyết định phê duyệt dự án.
Quyết định phê duyệt dự án tạo cơ sở để xác định các công trình đang đề nghị cấp giấy phép thuộc dự án đã được phê duyệt.
Đối với hồ sơ nhiều công trình, việc đối chiếu quyết định phê duyệt dự án có ý nghĩa lớn hơn so với việc chỉ kiểm tra sự tồn tại của quyết định.
Cần bảo đảm nhóm công trình hoặc toàn bộ công trình đề nghị cấp phép thực sự nằm trong phạm vi dự án tương ứng.
Nếu dự án có nhiều công trình và được tổ chức theo các nhóm hoặc giai đoạn khác nhau thì hồ sơ xin phép cần được kiểm soát để không nhầm phạm vi giữa các nhóm.
Cùng với Quyết định phê duyệt dự án là Báo cáo kết quả thẩm tra thiết kế xây dựng theo quy định nếu có.
Điểm cần giữ nguyên là điều kiện “nếu có”.
Việc chủ đầu tư xin một giấy phép cho nhiều công trình không làm cho Báo cáo kết quả thẩm tra tự động trở thành thành phần bắt buộc đối với mọi công trình.
Cần xác định trường hợp nào có báo cáo theo quy định và tổ chức tài liệu tương ứng.
Tương tự là kết quả thực hiện thủ tục hành chính theo pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ đối với hồ sơ thiết kế đề nghị cấp giấy phép xây dựng nếu có yêu cầu.
Đối với dự án có nhiều công trình, việc xác định phạm vi áp dụng của tài liệu này cần được thực hiện cẩn thận.
Không nên mặc định tất cả các công trình trong dự án đều có cùng yêu cầu chỉ vì chúng nằm trong một bộ hồ sơ cấp phép chung.
Phải căn cứ trường hợp thực tế và yêu cầu pháp luật tương ứng để xác định công trình hoặc phạm vi nào phát sinh thủ tục.
Nguyên tắc tương tự được áp dụng đối với kết quả thực hiện thủ tục hành chính về bảo vệ môi trường.
Tài liệu này được đưa vào hồ sơ nếu có yêu cầu theo pháp luật về bảo vệ môi trường.
Văn bản ý kiến của cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh cũng được đưa vào nếu có yêu cầu.
Như vậy, nhóm tài liệu tại khoản 3 không nên được tổ chức như một danh mục cứng mà cần chia thành hai phần.
Phần thứ nhất là tài liệu nền tảng của dự án, cụ thể là Quyết định phê duyệt dự án.
Phần thứ hai là những tài liệu phát sinh theo điều kiện, bao gồm Báo cáo kết quả thẩm tra nếu có và các kết quả hoặc văn bản chuyên ngành nếu có yêu cầu.
Cách phân loại này đặc biệt hữu ích đối với hồ sơ có nhiều công trình bởi mỗi tài liệu chuyên ngành có thể có phạm vi áp dụng khác nhau.
Sau các căn cứ pháp lý và chuyên ngành, bộ bản vẽ thiết kế xây dựng là phần quyết định tính đầy đủ về kỹ thuật của hồ sơ.
Quy định yêu cầu bộ bản vẽ thiết kế xây dựng trong hồ sơ thiết kế xây dựng triển khai sau khi dự án được phê duyệt của từng công trình trong nhóm công trình hoặc toàn bộ công trình thuộc dự án.
Cụm từ “từng công trình” là chìa khóa để hiểu đúng quy định.
Mặc dù thủ tục được thực hiện chung cho nhóm công trình hoặc toàn bộ công trình, hồ sơ kỹ thuật không được phép chỉ dừng lại ở một bản vẽ tổng thể.
Từng công trình thuộc phạm vi đề nghị cấp phép phải có bộ bản vẽ tương ứng theo quy định.
Nếu hồ sơ đề nghị cấp phép cho ba công trình thì phải kiểm soát hồ sơ thiết kế của cả ba.
Nếu đề nghị cấp phép cho toàn bộ mười công trình thuộc dự án thì bộ hồ sơ cần được kiểm tra đối với từng công trình trong phạm vi đó.
Vì vậy, có thể phân biệt hai cấp độ của hồ sơ thiết kế.
Cấp độ thứ nhất là tổng thể dự án, trong đó tổng mặt bằng thể hiện mối quan hệ không gian giữa các công trình.
Cấp độ thứ hai là từng công trình, trong đó các bản vẽ cụ thể thể hiện vị trí, kiến trúc hoặc tuyến, móng, kết cấu chính và đấu nối hạ tầng tương ứng.
Hai cấp độ này bổ sung cho nhau và không thay thế nhau.
Một tổng mặt bằng đầy đủ không thay thế bộ bản vẽ của từng công trình.
Ngược lại, có đầy đủ bản vẽ riêng từng công trình nhưng thiếu sự thống nhất với tổng thể dự án cũng có thể làm cho bộ hồ sơ khó kiểm soát.
Bộ bản vẽ của từng công trình phải thuộc hồ sơ thiết kế xây dựng triển khai sau khi dự án được phê duyệt theo pháp luật về xây dựng và đã được phê duyệt theo quy định.
Đồng thời, nội dung bản vẽ được xác định theo điểm d khoản 1 Điều 57 đối với công trình theo tuyến hoặc không theo tuyến.
Do đó, sau khi lập danh mục công trình thuộc phạm vi đề nghị cấp phép, bước tiếp theo là phân loại từng công trình theo tuyến hoặc không theo tuyến.
Đối với công trình không theo tuyến, bộ bản vẽ cần thể hiện bản vẽ tổng mặt bằng toàn dự án, mặt bằng định vị công trình trên lô đất, các bản vẽ kiến trúc về mặt bằng, mặt đứng và mặt cắt chủ yếu.
Ngoài ra còn có bản vẽ mặt bằng và mặt cắt móng, các bản vẽ thể hiện giải pháp kết cấu chính của công trình và bản vẽ mặt bằng đấu nối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật bên ngoài công trình, dự án.
Đối với công trình theo tuyến, bộ bản vẽ tập trung vào sơ đồ vị trí tuyến công trình, bản vẽ mặt bằng tổng thể hoặc bình đồ công trình, các mặt cắt dọc và mặt cắt ngang chủ yếu của tuyến.
Cùng với đó vẫn phải kiểm tra các bản vẽ mặt bằng, mặt cắt móng, giải pháp kết cấu chính và đấu nối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật bên ngoài theo nội dung được dẫn chiếu.
Trong cùng một dự án hoàn toàn có thể tồn tại cả công trình theo tuyến và không theo tuyến.
Đây là lý do không nên lập một danh mục bản vẽ duy nhất rồi áp dụng máy móc cho tất cả công trình.
Mỗi công trình phải được phân loại trước khi kiểm tra thành phần bản vẽ.
Ví dụ, trong một dự án có các công trình xây dựng tập trung và các tuyến hạ tầng, nhóm thứ nhất cần được kiểm tra theo cấu trúc bản vẽ của công trình không theo tuyến, còn nhóm thứ hai được kiểm tra theo cấu trúc của công trình theo tuyến.
Việc các công trình cùng thuộc một dự án không làm mất đi sự khác biệt này.
Khi hồ sơ bao gồm nhiều công trình, một phương pháp quản lý hiệu quả là xây dựng ma trận kiểm tra nội bộ.
Theo chiều ngang có thể liệt kê từng công trình thuộc phạm vi xin phép.
Theo chiều dọc có thể kiểm tra lần lượt loại công trình, vị trí đất, tình trạng thiết kế, Báo cáo kết quả thẩm tra nếu có, thủ tục phòng cháy nếu có yêu cầu, thủ tục môi trường nếu có yêu cầu, ý kiến văn hóa nếu có yêu cầu và các nhóm bản vẽ tương ứng.
Đây không phải tài liệu bắt buộc phải bổ sung vào hồ sơ theo quy định đang phân tích, nhưng là công cụ hữu ích để chủ đầu tư tránh bỏ sót tài liệu.
Đối với dự án có số lượng công trình lớn, kiểm tra hồ sơ chỉ theo từng tập tài liệu có thể dẫn đến tình trạng “đủ tài liệu nhưng thiếu công trình”.
Ví dụ, bộ hồ sơ có hàng trăm bản vẽ nhưng một công trình trong phạm vi đề nghị cấp phép lại chưa có bản vẽ móng hoặc chưa có bản vẽ đấu nối tương ứng.
Ngược lại, nếu chỉ kiểm tra từng công trình mà không kiểm tra toàn dự án thì có thể xuất hiện tình trạng bản vẽ của từng công trình riêng lẻ đầy đủ nhưng vị trí giữa các công trình không thống nhất với tổng mặt bằng.
Do đó, hồ sơ cần được kiểm tra theo cả chiều “dọc” và chiều “ngang”.
Kiểm tra theo chiều dọc là đi từ một công trình cụ thể qua toàn bộ các tài liệu có liên quan đến công trình đó.
Kiểm tra theo chiều ngang là chọn một loại thông tin, chẳng hạn phạm vi đất đai hoặc tổng mặt bằng, rồi đối chiếu đồng thời với tất cả công trình trong phạm vi xin phép.
Cách kiểm tra hai chiều giúp phát hiện những sai lệch mà kiểm tra tài liệu đơn lẻ khó nhận ra.
Một nội dung đặc biệt quan trọng là tính thống nhất về phiên bản thiết kế.
Dự án có nhiều công trình thường có quá trình thiết kế phức tạp. Một số công trình có thể được hoàn thiện trước, một số hoàn thiện sau và tổng mặt bằng có thể được cập nhật trong quá trình phối hợp.
Nếu không quản lý phiên bản, hồ sơ có thể tập hợp các bản vẽ thuộc những thời điểm khác nhau.
Chẳng hạn, tổng mặt bằng thể hiện vị trí công trình A theo phương án cũ trong khi bản vẽ riêng của A đã được cập nhật theo phương án mới.
Hoặc bản vẽ đấu nối hạ tầng của công trình B được lập dựa trên một bố trí tổng thể đã thay đổi.
Do đó, trước khi nộp hồ sơ cần kiểm tra toàn bộ bản vẽ thuộc đúng phiên bản được sử dụng chính thức.
Khi kết hợp với quy định chung về hồ sơ cấp giấy phép xây dựng, bản vẽ còn phải tuân thủ quy cách hồ sơ thiết kế và có chữ ký số của tổ chức, cá nhân thiết kế theo quy định tương ứng.
Vì vậy, quản lý phiên bản không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn liên quan trực tiếp đến việc bảo đảm tệp được sử dụng trong hồ sơ chính là tệp đã được xác nhận theo yêu cầu.
Có thể tổ chức một bước rà soát cuối cùng trước khi nộp hồ sơ theo năm lớp.
Lớp thứ nhất là phạm vi. Kiểm tra đơn đề nghị xác định đúng nhóm công trình hoặc toàn bộ công trình cần cấp phép chưa.
Lớp thứ hai là đất đai. Kiểm tra giấy tờ hợp pháp theo Điều 55 có tương ứng với phạm vi công trình hay không.
Lớp thứ ba là dự án và thủ tục chuyên ngành. Kiểm tra Quyết định phê duyệt dự án và từng tài liệu có điều kiện theo điểm c khoản 1 Điều 57.
Lớp thứ tư là thiết kế. Kiểm tra bộ bản vẽ của từng công trình và phân biệt đúng công trình theo tuyến, không theo tuyến.
Lớp thứ năm là kiểm tra chéo. Đối chiếu tên công trình, ký hiệu, vị trí, tổng mặt bằng, hồ sơ thiết kế và các tài liệu có liên quan để bảo đảm toàn bộ bộ hồ sơ cùng hướng đến một phạm vi cấp phép.
Nếu năm lớp này được kiểm soát đầy đủ thì hồ sơ sẽ hình thành một chuỗi thông tin tương đối rõ.
Đơn trả lời câu hỏi “đề nghị cấp phép cho những công trình nào”.
Giấy tờ đất đai trả lời câu hỏi “các công trình đó nằm trong phạm vi đất có căn cứ pháp lý nào”.
Quyết định phê duyệt dự án trả lời câu hỏi “các công trình thuộc dự án nào đã được phê duyệt”.
Các kết quả thủ tục chuyên ngành trả lời câu hỏi “đối với những nội dung có yêu cầu, thủ tục tương ứng đã được thực hiện như thế nào”.
Bộ bản vẽ trả lời câu hỏi “từng công trình được bố trí và thiết kế ra sao”.
Khi năm câu trả lời này hướng đến cùng một nhóm công trình hoặc cùng toàn bộ dự án thì tính thống nhất của hồ sơ được bảo đảm tốt hơn.
Một nguyên tắc cần tiếp tục nhấn mạnh là hồ sơ chung không làm mất tính độc lập của hồ sơ thiết kế từng công trình.
Việc pháp luật cho phép đề nghị cấp giấy phép cho nhóm công trình hoặc toàn bộ công trình tạo thuận lợi trong tổ chức thủ tục, nhưng không nên hiểu rằng nhiều công trình được gộp lại thành một đối tượng kỹ thuật duy nhất.
Quy định vẫn yêu cầu bộ bản vẽ của từng công trình.
Do đó, “gộp thủ tục” không đồng nghĩa “gộp nội dung kỹ thuật”.
Mỗi công trình vẫn cần được nhận diện trong bộ hồ sơ.
Ngược lại, việc có hồ sơ riêng của từng công trình cũng không làm mất yêu cầu về tính tổng thể.
Tất cả công trình cùng nằm trong phạm vi của một hồ sơ cấp phép nên phải được kiểm soát trong quan hệ với tổng mặt bằng, đất đai và dự án đã được phê duyệt.
Đây chính là đặc trưng kép của hồ sơ cấp phép theo nhóm: vừa phải chi tiết đến từng công trình, vừa phải thống nhất ở cấp toàn nhóm hoặc toàn dự án.
Một sai sót cần tránh là xác định phạm vi xin phép quá rộng nhưng hồ sơ thiết kế chưa bao phủ đầy đủ.
Nếu đơn đề nghị cấp phép cho toàn bộ công trình thuộc dự án thì cần kiểm tra toàn bộ công trình thuộc phạm vi đó đã có bộ bản vẽ tương ứng chưa.
Nếu một số công trình chưa đủ hồ sơ nhưng đơn vẫn xác định phạm vi toàn bộ thì cần rà soát lại tính thống nhất trước khi nộp.
Sai sót thứ hai là phạm vi đất đai không tương ứng với phạm vi công trình.
Có giấy tờ đất đai hợp pháp là một yêu cầu quan trọng, nhưng đối với hồ sơ nhóm hoặc toàn dự án cần kiểm tra thêm mối quan hệ giữa phạm vi giấy tờ và vị trí các công trình.
Sai sót thứ ba là mặc định tất cả các thủ tục chuyên ngành đều áp dụng giống nhau cho mọi công trình.
Quy định sử dụng các cụm từ “nếu có” và “nếu có yêu cầu”. Do đó, cần xác định điều kiện phát sinh của từng tài liệu thay vì yêu cầu đồng loạt.
Sai sót thứ tư là sử dụng sai cấu trúc bản vẽ giữa công trình theo tuyến và không theo tuyến.
Việc cùng thuộc một dự án không làm cho hai loại công trình này có cùng yêu cầu về bản vẽ.
Sai sót thứ năm là thiếu kiểm soát phiên bản.
Đây là rủi ro đặc biệt lớn khi nhiều tư vấn hoặc nhiều bộ môn cùng tham gia dự án. Bộ hồ sơ trước khi nộp cần được kiểm tra để bảo đảm các bản vẽ chính thức thống nhất với nhau.
Nếu xây dựng thành một chuỗi công việc hoàn chỉnh, trước hết chủ đầu tư xác định đề nghị cấp phép cho toàn bộ công trình hay một nhóm công trình.
Sau đó xác định chính xác danh mục công trình thuộc phạm vi.
Tiếp theo lập Đơn đề nghị theo Mẫu số 01.
Sau đó kiểm tra một trong các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai theo Điều 55 tương ứng với nhóm hoặc toàn bộ dự án.
Bước tiếp theo là kiểm tra Quyết định phê duyệt dự án.
Sau đó rà soát Báo cáo kết quả thẩm tra nếu có và từng kết quả thủ tục chuyên ngành nếu có yêu cầu.
Tiếp theo phân loại từng công trình theo tuyến hoặc không theo tuyến.
Trên cơ sở phân loại, tập hợp bộ bản vẽ thiết kế của từng công trình theo điểm d khoản 1 Điều 57.
Sau đó kiểm tra tổng mặt bằng, vị trí, tên và ký hiệu công trình, móng, kết cấu chính, đấu nối hạ tầng và phiên bản thiết kế.
Cuối cùng thực hiện kiểm tra chéo toàn bộ hồ sơ trước khi nộp.
Chuỗi này có thể cô đọng thành: xác định phạm vi cấp phép → khóa danh mục công trình → lập đơn → xác định phạm vi đất → kiểm tra dự án → nhận diện tài liệu chuyên ngành có điều kiện → phân loại công trình → kiểm tra thiết kế từng công trình → kiểm tra tổng thể → kiểm soát phiên bản → hoàn thiện hồ sơ.
Tóm lại, hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng cho toàn bộ công trình thuộc dự án hoặc nhóm công trình thuộc dự án được cấu thành từ bốn nhóm tài liệu chính nhưng đòi hỏi mức độ kiểm soát cao về phạm vi. Nhóm thứ nhất là Đơn đề nghị cấp giấy phép xây dựng theo Mẫu số 01 Phụ lục II. Nhóm thứ hai là một trong các giấy tờ hợp pháp về đất đai theo Điều 55 tương ứng với nhóm công trình hoặc toàn bộ dự án. Nhóm thứ ba là các tài liệu theo điểm c khoản 1 Điều 57, trong đó có Quyết định phê duyệt dự án, Báo cáo kết quả thẩm tra nếu có và các kết quả thủ tục về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, bảo vệ môi trường, ý kiến của cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh nếu có yêu cầu. Nhóm thứ tư là bộ bản vẽ thiết kế xây dựng triển khai sau khi dự án được phê duyệt của từng công trình trong nhóm hoặc toàn bộ công trình thuộc dự án, được phê duyệt và xác định nội dung theo điểm d khoản 1 Điều 57 đối với công trình theo tuyến hoặc không theo tuyến. Điểm cốt lõi không phải đơn thuần tập hợp đủ bốn nhóm tài liệu mà là bảo đảm bốn nhóm cùng bao phủ một phạm vi thống nhất. Đơn đề nghị xác định phạm vi nào thì đất đai phải tương ứng với phạm vi đó; dự án phải bao gồm những công trình đó; các thủ tục chuyên ngành phải được nhận diện đúng theo từng trường hợp; và bộ bản vẽ phải có đầy đủ đối với từng công trình nằm trong phạm vi đề nghị. Có thể khái quát toàn bộ nguyên tắc bằng một chuỗi xuyên suốt: một phạm vi cấp phép → một danh mục công trình xác định → một hệ thống căn cứ đất đai tương ứng → một dự án đã được phê duyệt → các thủ tục chuyên ngành phát sinh theo điều kiện → hồ sơ thiết kế của từng công trình → một bộ hồ sơ tổng thể thống nhất. Đây chính là logic quan trọng nhất khi tổ chức hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng cho toàn bộ công trình thuộc dự án hoặc cho một nhóm công trình thuộc dự án.

CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ & THIẾT KẾ XÂY DỰNG MINH PHƯƠNG
Địa chỉ: Số 28B Mai Thị Lựu, Phường Đa Kao, Q.1, TPHCM
Hotline: 0903649782 - (028) 3514 6426
Email: nguyenthanhmp156@gmail.com
Xem thêm